Thứ 2, 26/09/2022 - 00:14
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Yên Bái gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 02 ý kiến của cử tri tỉnh Yên Bái do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực đất đai và khoáng sản.

Một là, hiện nay, một số nội dung quy định của Luật Đất đai 2013 không phù hợp với thực tiễn triển khai; nhiều nội dung mới phát sinh chưa có quy định điều chỉnh. Hệ thống pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không đồng bộ và thống nhất, dẫn đến không rõ trách nhiệm quản lý, gây khó khăn cho tổ chức thực hiện. Do đó, cử tri kiến nghị nghiên cứu trình Quốc hội xem xét, nghiên cứu sớm sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013 để phù hợp với thực tiễn

Luật Đất đai là đạo Luật quan trọng, có tác động đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Triển khai thi hành Luật Đất đai, công tác quản lý đất đai đã đạt được những kết quả quan trọng. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đã bước đầu khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất tràn lan, không đưa vào sử dụng, lãng phí. Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi. Các địa phương cơ bản đã lập được hệ thống hồ sơ địa chính dạng số đồng bộ giữa bản đồ địa chính với thông tin đăng ký, cấp Giấy chứng nhận; một số địa phương đã vận hành cơ sở dữ liệu địa chính, tạo nền tảng quan trọng để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, phục vụ đa mục tiêu. Quy định về các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã hình thành khung pháp lý để thị trường bất động sản vận hành, đáp ứng được yêu cầu của người dân và doanh nghiệp khi có nhu cầu về đất nông nghiệp, đất ở, đất sản xuất kinh doanh. Các giao dịch chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, giao dịch thế chấp bằng quyền sử dụng đất không ngừng tăng lên. Chính sách tài chính về đất đai được hoàn thiện đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách, những quy định đổi mới về giá đất đã tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế. Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đã được coi trọng, đã giảm tối đa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Việc thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc nộp hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ công việc và giúp đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn những tồn tại, bất cập như: việc tổ chức thi hành pháp luật về đất đai ở một số địa phương chưa tốt; pháp luật về đất đai và pháp luật khác còn chưa thống nhất, đồng bộ; nguồn lực đất đai chưa thực sự được khai thác đầy đủ và hiệu quả. Do đó, trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các nội dung sau đây: (i) thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập Dự án Luật với sự tham gia của đại diện Lãnh đạo các Bộ, ngành và một số địa phương; các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; (ii) tổng hợp và hệ thống các nội dung chỉ đạo trong các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương liên quan đến lĩnh vực đất đai cần phải thể chế; (iii) ban hành văn bản đề nghị các Bộ, ngành, địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá việc tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013; (iv) tổng hợp ý kiến của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương và ý kiến kiến nghị của cử tri, của người dân, doanh nghiệp về các vướng mắc, bất cập và hướng sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai; (v) tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, làm việc trực tiếp với một số Bộ, ngành, địa phương và chuyên gia về những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Ban soạn thảo, Tổ Biên tập đã họp nhiều cuộc để bàn về những những bất cập, vướng mắc, những định hướng lớn cũng như các nội dung cụ thể dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai; (vi) xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.

Cơ quan soạn thảo đã hoàn chỉnh dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai theo những chính sách và định hướng sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội, Chính phủ thông qua trong quá trình lập đề nghị xây dựng Luật theo đúng kế hoạch. Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai dự kiến trình Quốc hội Khóa XIV cho ý kiến vào kỳ họp thứ 09 đầu năm 2020, thông qua vào kỳ họp thứ 10 cuối năm 2020 và có hiệu lực từ giữa năm 2021. Tuy nhiên, trong quá trình sơ kết Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Nghị quyết số 19-NQ/TW), tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, qua giám sát tối cao của Quốc hội và thực tiễn thi hành Luật Đất đai, nhiều ý kiến cho rằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai sẽ không giải quyết được căn cơ những vấn đề lớn đặt ra đối với phát triển đất nước, phát huy nguồn lực, nguồn tài nguyên đất đai cho phát triển, giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, giảm khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai,…

Mặt khác, song song quá trình chuẩn bị dự án Luật sửa đổi một số Điều của Luật Đất đai, trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn phát triển đất nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành đã trình Chính phủ để trình Quốc hội ban hành một số văn bản như Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Nghị quyết số 60/2018/QH14 về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết số 82/2019/QH14 về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý sử dụng đất tại đô thị; Chính phủ đã ban hành theo thẩm quyền 10 Nghị định. Các văn bản mới ban hành đã có các quy định giải quyết một số chính sách dự kiến sửa đổi, bổ sung trong dự án Luật, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về đấu thầu, pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng, tháo gỡ căn bản các nút thắt, điểm nghẽn, rào cản trong quá trình thi hành Luật Đất đai,….

Luật Đất đai là đạo luật quan trọng có tác động đến phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh nên cần phải sửa đổi căn bản, toàn diện trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW để ban hành Nghị quyết mới của Ban Chấp hành Trung ương về chính sách đất đai, phù hợp với những quan điểm, định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng làm định hướng cho việc sửa đổi và quá trình tham vấn rộng rãi ý kiến của Nhân dân, doanh nghiệp để đảm bảo tính ổn định, khả thi, toàn diện và đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên, nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Từ thực tế đó, mặc dù đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhưng Chính phủ, Quốc hội đã quyết định lùi thời điểm trình Dự án Luật này để nghiên cứu sửa đổi một cách căn bản, toàn diện. Hiện nay, Chính phủ đang khẩn trương tổng kết đánh giá toàn diện việc thi hành Luật Đất đai và chuẩn bị tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW để trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết mới về chính sách đất đai. Ngay sau khi có Nghị quyết mới của Ban Chấp hành Trung ương Chính phủ sẽ nghiên cứu thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng và trình Quốc hội Dự án Luật Đất đai sửa đổi toàn diện.

Để giải quyết các vấn đề ngay những vấn đề cử tri quan tâm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Nghị định khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp,...

Hai là, theo quy định Điều 5 Luật Khoáng sản và Điều 15, Điều 16 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản quy định Nhà nước và doanh nghiệp có trách nhiệm đối với quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp chưa có quy định về mức hỗ trợ, vì vậy việc thực hiện của các doanh nghiệp còn hạn chế, chưa cụ thể, chưa hiệu quả. Giữa Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp chưa có quy định cụ thể để thống nhất trong đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung và xây dựng công trình phúc lợi cho địa phương. Công tác này chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức, vì vậy người dân một số nơi còn chưa đồng thuận, phản đối hoạt động khoáng sản.

Đề nghị nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung quy định cụ thể hơn quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác (phù hợp với thực tế, đặc biệt quy định sự phối hợp giữa Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp để thống nhất trong đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung và xây dựng công trình phúc lợi cho địa phương); quy định cụ thể về các khu vực như thế nào, đáp ứng tiêu chí gì thì được khảo sát thực địa, lấy mẫu trên mặt đất để lựa chọn diện tích lập đề án thăm dò khoáng sản

Về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác

Các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước như: các khoản thuế, phí, lệ phí, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản... Về nguyên tắc, nhà nước có trách nhiệm trích kinh phí từ nguồn này để đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung và xây dựng công trình phúc lợi cho địa phương, nội dung này đã được thể hiện rõ tại Điều 15 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản. Tuy nhiên, khi hoạt động khoáng sản, các tổ chức, cá nhân cũng phải hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác, việc hỗ trợ này đã được quy định cụ thể tại Điều 15 và Điều 16 Nghị định nêu trên, đó là: đường giao thông cấp huyện, xã bị ảnh hưởng trực tiếp do vận chuyển đất đá thải, khoáng sản đã khai thác; các công trình phúc lợi nằm trên địa bàn huyện, xã nơi có khoáng sản được khai thác (trường học, cơ sở khám chữa bệnh, nhà văn hóa, hệ thống cung cấp nước sạch; công trình xử lý môi trường); Đồng thời, các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải có trách nhiệm trực tiếp thực hiện việc hỗ trợ địa phương và người dân  nơi có khoáng sản được khai thác và phải thông báo nội dung, khối lượng, kế hoạch, chương trình thực hiện các công việc, các hạng mục công trình hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp xã, thông báo công khai đến tổ dân phố/thôn/bản để người dân cử đại diện giám sát quá trình thực hiện.

Về khu vực được khảo sát thực địa, lấy mẫu trên mặt đất để lựa chọn diện tích lập đề án thăm dò khoáng sản

Về bản chất việc khảo sát thực địa, lấy mẫu là để khoanh định khu vực dự kiến thăm dò, doanh nghiệp đầu tư dự án tại đây phải nắm bắt được những thông tin cơ bản tại khu vực này để lựa chọn diện tích thăm dò khoáng sản, các khu vực này phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Thuộc khu vực được phép hoạt động khoáng sản;

Khu vực hoạt động khoáng sản là khu vực có khoáng sản đã được điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khoanh định trong quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản (hiện nay là Phương án bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên trên địa bàn tỉnh trong quy hoạch tỉnh và quy định tại Điều 8 Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch);

Không thuộc khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, khu vực dự trữ khoáng sản;

Có sự chấp thuận bằng văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có khu vực dự kiến thăm dò khoáng sản (Điều 37 Luật Khoáng sản).

Ba là, Điểm a, b khoản 4 điều 7 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật khoáng sản quy định “tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản nộp báo cáo định kỳ cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường nơi có hoạt động khoáng sản” không quy định nộp cho Sở Công thương. Do vậy, Sở Công thương chỉ được nhận bản sao báo cáo định kỳ của Sở Tài nguyên và Môi trường gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường để phối hợp quản lý, trong đó mẫu 37 báo cáo định kỳ không có các nội dung về thời điểm báo cáo của tổ chức, doanh nghiệp, chất lượng và tính sát thực của báo cáo định kỳ của doanh nghiệp gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và việc xử lý vi phạm theo quy định tại điều 35 Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điểm a, b khoản 4 điều 7 Nghị định số 158/2016/NĐ - CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định “tổ chức, doanh nghiệp nộp báo cáo định kỳ cho Sở Công thương để quản lý, theo dõi”

Các loại báo cáo kết quả hoạt động khoáng sản; báo cáo tình hình quản lý nhà nước về khoáng sản đã được quy định tại Điều 7 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP, theo đó, điểm a khoản 4 Điều này quy định các tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải nộp báo cáo của năm trước đó cho Sở Tài nguyên và Môi trường, đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản theo giấy phép thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường còn phải nộp báo cáo cho Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Điểm b khoản 4 Điều này cũng nêu rõ, Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thành báo cáo của năm trước đó trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để gửi cho Bộ Tài nguyên và Môi trường và gửi bản sao báo cáo cho Sở Công thương, Sở Xây dựng để phối hợp quản lý. Việc không quy định tổ chức, cá nhân phải gửi báo cáo cho nhiều cơ quan sẽ giúp đơn giản hóa các quy định liên quan đến kinh doanh, giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan