Thứ 5, 18/08/2022 - 03:35
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Thái Nguyên gửi đến sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 02 ý kiến của cử tri tỉnh Thái Nguyên do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sớm sửa Luật Đất đai; ban hành văn bản quy định việc quản lý, khai thác, sử dụng đất san lấp tại những khu vực đồi, núi nhỏ lẻ, không đủ điều kiện quy hoạch điểm mỏ để giúp nhân dân trong quá trình san gạt, cải tạo mặt bằng, canh tác, sản xuất nông nghiệp được thuận lợi,

Một là, Luật Đất đai năm 2013 quy định công tác giải phóng mặt bằng có 02 trường hợp: dự án thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất (Điều 60, 61, 62) và dự án không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất thì nhà đầu tư sử dụng đất thông qua các hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh (Điều 73).

Đối với dự án thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất thì giá đất bồi thường do nhà nước quy định; còn đối với các dự án khác thì giá đất là giá thỏa thuận giữa chủ đầu tư và người sử dụng đất thông qua các hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Điều này gây ra sự chênh lệnh lớn về giá đất bồi thường khi thực hiện các dự án khác nhau, gây khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng trong trường hợp hai dự án ở gần nhau trên cùng địa bàn. Trên thực tế nhiều dự án mà chủ đầu tư không đạt được thỏa thuận với người sử dụng đất hoặc thỏa thuận được nhưng các thửa đất không liền nhau do người đang sử dụng đất không đồng ý hoặc nâng giá cao gấp nhiều lần so với thị trường. Thỏa thuận không thành dẫn đến thời gian triển khai dự án kéo dài nhiều năm, thậm chí không ít dự án đã bị doanh nghiệp bỏ hoang sau khi thỏa thuận với dân thất bại. Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sớm sửa Luật Đất đai

Theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì khi Nhà nước thu hồi đất, người có đất thu hồi được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất theo nguyên tắc thị trường và được hưởng các khoản hỗ trợ (hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ tái định cư và hỗ trợ khác). Đồng thời, Luật Đất đai và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP đã giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường, hỗ trợ cụ thể đảm bảo quyền lợi của người có đất thu hồi.

Đối với cơ chế tiếp cận đất đai theo quy định tại Điều 73 của Luật Đất đai được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận dân sự giữa nhà đầu tư với người sử dụng đất, Nhà nước không can thiệp vào giá thỏa thuận của các bên.

Tuy nhiên, kiến nghị của cử tri liên quan đến vấn đề có sự chênh lệch về giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa trường hợp Nhà nước thu hồi đất và trường hợp Nhà đầu tư thỏa thuận với người sử dụng và việc đảm bảo sự ổn định về chính sách bồi thường qua các thời kỳ là đúng với tình hình thực tế. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang nghiên cứu để đưa ra các giải pháp giải quyết được vấn đề nêu trên. Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai năm 2013.

Hai là, theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010 thì đất san lấp là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, do đó việc khai thác, vận chuyển đất san lấp phải đảm bảo nguyên tắc, điều kiện, thành phần hồ sơ và trình tự thủ tục các bước theo quy định của Luật Khoáng sản. Việc cấp phép thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thời gian 01 cấp giấy phép khoảng 1-2 năm. Hiện nay tại các xã, thị trấn của các địa phương miền núi có nhiều khu vực đồi núi thấp, nhỏ lẻ, có trữ lượng đất san lấp ít không đủ điều kiện quy hoạch cấp giấy phép khai thác theo quy định; trong khi nhu cầu về san gạt, cải tạo mặt bằng để sản xuất nông nghiệp, tận dụng lượng đất dư thừa để san lấp các công trình dân sinh, công cộng, đường giao thông của nhân dân là rất lớn. Điều này đã gây khó khăn cho nhân dân trong việc san gạt, cải tạo mặt bằng; dẫn đến có hoạt động khai thác đất trái phép gây thất thoát tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành văn bản quy định việc quản lý, khai thác, sử dụng đất san lấp tại những khu vực đồi, núi nhỏ lẻ, không đủ điều kiện quy hoạch điểm mỏ để giúp nhân dân trong quá trình san gạt, cải tạo mặt bằng, canh tác, sản xuất nông nghiệp được thuận lợi

Việc quản lý, cấp phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (trừ khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường quy định tại khoản 2 Điều 64 Luật Khoáng sản) phải đảm bảo nguyên tắc, điều kiện, thành phần hồ sơ và trình tự thủ tục theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010 và Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản. Tuy nhiên, kiến nghị nêu trên của Cử tri tỉnh Thái Nguyên và của một số địa phương khác là một vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận để tổng hợp, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản trong thời gian tới. Trước mắt, Bộ tiếp thu đề nghị và nghiên cứu đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản liên quan đến thành phần, hình thức, trình tự, thủ tục cấp phép đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường theo kiến nghị nêu trên để trình Chính phủ trong Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012, dự kiến trình Chính phủ xem xét, ban hành trong tháng 10/2020.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan