Chủ nhật, 25/09/2022 - 23:52
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Bình gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 07 ý kiến của cử tri tỉnh Quảng Bình do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Một là, cử tri phản ánh, hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất thì thẩm quyền phê duyệt giá đất là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định này gây áp lực lớn về công việc đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh, kéo dài thời gian thực hiện các dự án liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất mà thẩm quyền thu hồi, giao đất là của Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Vì vậy, để đẩy nhanh thời gian thực hiện, cử tri đề nghị quy định phân cấp thẩm quyền phê duyệt giá đất cụ thể cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với các trường hợp giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng... thuộc thẩm quyền quyết định thực hiện của Uỷ ban nhân dân huyện nhằm đảm bảo thống nhất với quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai 2013

Theo quy định tại khoản 3 Điều 114 của Luật Đất đai, Điều 16 của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể.

Theo quy định tại Điều 14 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019) thì trong trường hợp cần thiết cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể; việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản; việc ủy quyền phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện; cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tổng hợp ý kiến phản ánh của các địa phương về các khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật đất đai trong đó có các vấn đề mà cử tri phản ánh để tiếp tục làm cơ sở đề xuất sửa đổi chính sách, pháp luật đất đai.

Hai là, cử tri phản ánh, việc quy định lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện phải được cụ thể đến từng tờ bản đồ, thửa đất, dẫn đến rất khó khăn trong quá trình thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và giao đất, cho thuê đất thực hiện các dự án. Cử tri đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường quan tâm sửa đổi Thông tư 29/2014/TT-BTNMT để tháo gỡ vướng mắc nêu trên theo hướng xây dựng kế hoạch theo chỉ tiêu các loại đất, không quy định danh mục dự án phải xác định cụ thể đến từng thửa đất và sau khi quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt, các dự án cụ thể cần chuyển mục đích sử dụng đất nằm trong chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch thì không phải xin phép các cơ quan có thẩm quyền theo Điều 58 Luật Đất đai như hiện nay nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch, tránh tình trạng quy hoạch chạy theo dự án, điều chỉnh bổ sung kế hoạch nhiều lần, dễ sai phạm

Trên cơ sở kết quả tổng kết đánh giá thực tiễn quá trình thi hành Luật Đất đai năm 2003, nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế phù hợp, đồng thời đã thể chế hóa đầy đủ quan điểm, định hướng đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI). Luật Đất đai năm 2013 đã có những nội dung đổi mới quan trọng, trong đó: Quy định cụ thể nội dung kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện để làm cơ sở thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất gắn với nhu cầu sử dụng đất trong năm của các ngành, lĩnh vực, của các cấp, phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực, khắc phục lãng phí trong việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư. Quan điểm đổi mới nêu trên đã được cụ thể hóa tại Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 quy định về căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Điều 14 Luật Đất đai năm 2013; đồng thời, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng là một trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai (quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013).

Về các chỉ tiêu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện được thực hiện theo các chỉ tiêu sử dụng đất như đã quy định tại Điều 10 Luật Đất đai về phân loại đất và được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Như đã phân tích nêu trên, việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện dựa trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất trong năm của các ngành, lĩnh vực, của các cấp, phù hợp với khả năng đầu tư, huy động nguồn lực, kế hoạch sử dụng đất phải xác định quy mô, diện tích, vị trí thửa đất để làm căn cứ thu hồi đất và để tránh tình trạng tranh chấp, chồng chéo, một thửa đất có nhiều mục đích sử dụng thì việc xác định các chỉ tiêu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đến từng thửa đất là rất quan trọng.

Về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã được quy định tại Điều 59 Luật Đất đai năm 2013, trong đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo từng trường hợp cụ thể; đối với điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư quy định tại Điều 58 Luật Đất đai năm 2013 là để Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ kiểm soát các công trình, dự án phục vụ mục đích quốc phòng an ninh hoặc các dự án đặc biệt, cấp thiết do Chính phủ quyết định, các dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương có nhu cầu sử dụng quỹ đất lớn, kiểm soát năng lực của nhà đầu tư, tránh tình trạng đăng ký nhu cầu sử dụng đất nhưng không thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ảnh hưởng đến nhu cầu để thực hiện các dự án khác. Do vậy, việc quy định như hiện hành là cần thiết để đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.

Ba là, cử tri phản ánh, quy định tại Điều 74 Luật Khoáng sản là chưa hợp lý đối với các mỏ khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường, làm tăng thêm thủ tục hành chính và tốn kém cho doanh nghiệp, vì trong hồ sơ cấp phép khai thác khoáng sản đã có dự án cải tạo, phục hồi môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, dự án đã có phương pháp phục hồi môi trường, chi phí cho công tác phục hồi môi trường theo Luật bảo vệ Môi trường. Vì vậy, cử tri đề nghị sửa đổi quy định trên, hoặc có văn bản quy định theo hướng: Đối với các dự án khai thác mỏ làm vật liệu xây dựng thông thường thì sau khi kết thúc khai thác mỏ, chủ dự án chỉ cần thực hiện theo đúng phương án bảo vệ môi trường của dự án, báo cáo kết quả thực hiện cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, nghiệm thu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định đóng cửa mỏ, chứ không cần thiết phải lập đề án đóng cửa mỏ gây tốn kém cho doanh nghiệp

Về bản chất, phương án cải tạo, phục hồi môi trường là kịch bản được lập để xác định tổng mức chi phí cải tạo, phục hồi môi trường trong quá trình khai thác cũng như dự kiến tổng chi phí cho công tác cải tạo, phục hồi môi trường khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ). Trên cơ sở đó, tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản có trách nhiệm ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trước khi khai thác và nộp từng năm của các năm tiếp theo cho đến khi dừng khai thác. Trong khi đó, đề án đóng cửa mỏ được lập trong các trường hợp Giấy phép khai thác chấm dứt hiệu lực (hết hạn mà không tiếp tục khai thác/bị thu hồi/doanh nghiệp phá sản, giải thể). Theo đó, trên cơ sở hiện trạng khu vực khai thác, các công trình hạ tầng kỹ thuật của mỏ, phải xác định (không còn là kịch bản/dự tính) cho từng hạng mục công trình (tương ứng là khối lượng và chi phí thực hiện) cần cải tạo, phục hồi môi trường cho công trình đó để xác định tổng chi phí để thực hiện đề án đóng cửa mỏ (cho tất cả các hạng mục công trình). Đặc biệt, nội dung đề án đóng cửa mỏ phải làm rõ trữ lượng khoáng sản còn lại tại thời điểm lập Đề án để xác định đóng cửa mỏ để thanh lý (khai thác hết trữ lượng đã cấp trong khu vực khai thác) hay đóng cửa để bảo vệ (chưa khai thác hết trữ lượng đã cấp phép). Như vậy, lập, trình phê duyệt phương án cải tạo, phục hồi môi trường (là một thủ tục hành chính được thực hiện trước khi khai thác), còn đề án đóng cửa mỏ được lập sau khi đã tiến hành khai thác (thường là khi đã kết thúc khai thác, hết trữ lượng đã cấp phép) là hai thủ tục hành chính tại hai thời điểm khác nhau và bản chất pháp lý không giống nhau nên không thể gộp thành 01 thủ tục hành chính. Và việc thành lập Hội đồng thẩm định đề án đóng cửa mỏ cũng như thực hiện thủ tục riêng như quy định hiện hành là cần thiết.

Bốn là, cử tri phản ánh, theo quy định của Luật Đầu tư thì các trường hợp trúng đấu giá, đấu thầu sẽ không thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư; tuy vậy, đối với các trường hợp trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản thì hồ sơ cấp phép theo quy định của Luật Khoáng sản phải có chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan có thẩm quyền. Cử tri cho rằng, quy định mâu thuẫn này làm chậm tiến độ thực hiện dự án và gây chi phí tốn kém cho doanh nghiệp; đồng thời, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, tham mưu Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét sửa đổi quy định trên tại Luật Khoáng sản, hoặc có văn bản quy định cụ thể đối với trường hợp này

Việc cấp phép khai thác khoáng sản (thông qua hình thức đấu giá hoặc không đấu giá) cho tổ chức, cá nhân đã được quy định cụ thể tại Điều 53 Luật Khoáng sản, theo đó có nội dung quy định tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép phải có quyết định về chủ trương đầu tư khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, trữ lượng phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Về mâu thuẫn về chủ trương đầu tư khi đấu giá quyền khai thác khoáng sản giữa Luật Đầu tư và Luật Khoáng sản theo phản ánh nêu trên của cử tri, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận, tổng hợp để đề xuất Chính phủ, Quốc hội xem xét, quyết định trong quá trình tổng kết thi hành và sửa đổi Luật Khoáng sản.

Năm là, cử tri phản ánh, hiện nay chưa có quy định chính thức về khoảng cách cách ly đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến khu dân cư, khu vực công cộng, công sở, trường học… gây khó khăn trong quá trình lựa chọn địa điểm xây dựng cũng như trong công tác quản lý môi trường (thẩm định, kiểm tra, giải quyết khiếu nại…). Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, sớm ban hành quy định về khoảng cách cách ly đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường đối với các đối tượng sản xuất kinh doanh, dịch vụ đảm bảo nhất quán… phù hợp với trình độ công nghệ sản xuất và hiệu quả bảo vệ môi trường để thống nhất áp dụng trong cả nước

Khoảng cách an toàn về môi trường đã được quy định tại QCVN 01:2019/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng có hiệu lực từ ngày 01/7/2020, thay thế cho QCXDVN 01:2008/BXD - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam quy hoạch xây dựng.

Sáu là, cử tri phản ánh, quy định tại cột 33, Phụ lục II, Mục I, Phụ lục của Nghị định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường tất cả các trường hợp khai thác khoáng sản đều phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường trình Uỷ ban nhân dân tỉnh thẩm định và phê duyệt là không phù hợp với quy mô và tình hình thực tế. Cử tri đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, kiến nghị Chính phủ nên có phân cấp thẩm quyền đối với các phương án có khối lượng tận thu nhỏ <50.000m3 được lập Kế hoạch bảo vệ môi môi trường (đặc biệt là tận thu đất san lấp hoặc tân thu đất do cải tạo đất)

Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận kiến nghị của cử tri và sẽ xem xét, tiếp thu, chỉnh sửa cho phù hợp trong dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Bảy là, cử tri phản ánh, theo quy định tại Nghị định 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016, để thực hiện việc nhận chìm ở biển đòi hỏi tổ chức, cá nhân phải thực hiện 02 thủ tục (giao khu vực biển, Giấy phép nhận chìm ở biển) do một cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, cử tri đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, tham mưu Chính phủ gộp 02 thủ tục thành 01 thủ tục

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu, tham mưu, trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển (tại Tờ trình số 103/TTr-BTNMT ngày 25/12/2018, Công văn số 2846/BTNMT-TCBHĐVN ngày 17/6/2019, Công văn số 6358/BTNMT-TCBHĐVN ngày 30/11/2019 và Công văn số 1282/BTNMT-TCBHĐVN ngày 13/3/2020).

Trên tinh thần cải cách thủ tục hành chính, Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP trình Chính phủ đã bổ sung quy định về sử dụng khu vực biển để nhận chìm ở biển (tại Điều 14), trong đó quy định: “Tổ chức, cá nhân đủ điều kiện được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép nhận chìm ở biển cấp đồng thời Giấy phép nhận chìm ở biển và Quyết định giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân”.

Đến nay, Dự thảo Nghị định đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp thu, hoàn thiện theo ý kiến của các Thành viên Chính phủ và trình Chính phủ xem xét, ban hành tại Công văn số 3624/BTNMT-TCBHĐVN ngày 06/7/2020. Nghị định này sẽ được Chính phủ xem xét để sớm ban hành.

Bên cạnh đó, ngày 31/12/2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư số 28/2019/TT-BTNMT quy định kỹ thuật đánh giá chất nạo vét và xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở vùng biển Việt Nam, là căn cứ, cơ sở pháp lý tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép nhận chìm ở biển và sử dụng khu vực biển để nhận chìm.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan