Thứ 2, 20/09/2021 - 12:25
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Kiên Giang gửi đến sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được ý kiến của cử tri tỉnh Kiên Giang do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến kiến nghị tham mưu Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo quyết liệt hơn, để Đồng bằng sông Cửu Long phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của vùng, đóng góp nhiều hơn vào phát triển kinh tế của đất nước.

Cử tri nêu vấn đề, Quyết định 120/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bền vững Đồng Bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, mặc dầu hiện nay được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện, nhưng cử tri cho là tiến độ triển khai còn chậm, làm cho hiệu quả của quyết định bị hạn chế và các chủ trương, chính sách của người dân chậm được tiếp cận. Cử tri kiến nghị tham mưu Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo quyết liệt hơn, để Đồng bằng sông Cửu Long phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của vùng, đóng góp nhiều hơn vào phát triển kinh tế của đất nước

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long tích cực xây dựng, ban hành và thực hiện kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của từng Bộ, ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP tại Quyết định số 417/QĐ-TTg ngày 13/4/2019 với 06 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cụ thể chính, bao gồm: (1) Rà soát, hoàn thiện và bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách; (2) Cập nhật và hệ thống hóa số liệu, dữ liệu liên ngành, tăng cường điều tra cơ bản; (3) Xây dựng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ; (4) Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý thích ứng với biến đổi khí hậu; (5) Đầu tư và phát triển hạ tầng; (6) Phát triển và huy động nguồn lực.

Để tạo động lực mới nhằm đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, ngày 18/6/2019 Thủ tướng Chính phủ đã chủ trì Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP với sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị với quyết tâm đưa đồng bằng sông Cửu Long phát triển trù phú, thịnh vượng. Với các kết quả của Hội nghị, ngày 05/9/2019 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó giao trách nhiệm cụ thể cho từng Bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả Nghị quyết số 120/NQ-CP.

Song song với việc ban hành Chỉ thị 23/CT-TTg, Thủ tướng Chính phủ cũng giao Tổ Công tác của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ làm Tổ trưởng thường xuyên đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao.

 Đến nay các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được giao, trong đó đã hoàn thành một số nhiệm vụ quan trọng, đạt được một số kết quả ban đầu, có thể kể đến như:

Hệ thống cơ chế, chính sách bước đầu được hoàn thiện, tập trung thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững; phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, ổn định dân cư; gắn kết các quy hoạch phát triển:

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 12/6/2020 về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2020 - 2025 do Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch là Bộ trưởng các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải. Hội đồng điều phối vùng thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ và giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối, kiểm tra, giám sát việc thực hiện liên kết vùng, phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm cả phát triển vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long, nhằm đổi mới cơ chế điều phối vùng, thúc đẩy phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày 31/7/2020 phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 làm cơ sở các Bộ, ngành, địa phương rà soát, điều chỉnh các quy hoạch ngành, lĩnh vực: tài nguyên nước, thủy lợi, xây dựng, giao thông...; đề án kết nối mạng giao thông.

Đã ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy liên kết giữa nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà khoa học và nhà nông trong sản xuất, tiêu thụ và nâng cao giá trị sản phẩm. Có cơ chế, giải pháp xúc tiến đầu tư, mở rộng thị trường, ngành hàng, chính sách tín dụng đối với ngành lúa gạo.

Đã xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách như: (i) ưu tiên khuyến khích đầu tư tư nhân; (ii) thí điểm điều phối vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp; (iii) ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, nhất là chế biến sâu, chế biến tinh; hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại; (iv) lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu trong cơ chế, chính sách, quy hoạch, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; (v) hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ cao.

Đã rà soát, hoàn thiện nội dung về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Các địa phương trong vùng đang chủ động rà soát các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chỉnh sửa, bổ sung quy hoạch phát triển giao thông, đô thị... để tích hợp với quy hoạch tổng thể.

Thúc đẩy chuyển đổi quy mô lớn theo cơ cấu kinh tế và theo lãnh thổ trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng và từng tiểu vùng

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo đó sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng thủy sản, trái cây, giảm lúa; từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, chuyên canh nông sản chủ lực gắn với công nghệ chế biến, chuỗi giá trị nông sản.

Tập trung vào phát triển năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh, ít phát thải, thúc đẩy công nghiệp chế biến.

Nhiều địa phương đã chủ động triển khai một số mô hình kinh tế phù hợp với tự nhiên, ứng dụng công nghệ cao; chọn tạo, phát triển các giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản có tiềm năng, lợi thế; nâng cao chất lượng giống... Xung đột giữa các mô hình kinh tế đã và đang được giải quyết.

Kết nối liên vùng đang được thúc đẩy thông qua kết nối kinh tế, kết nối hạ tầng nội vùng và với Thành phố Hồ Chí Minh

Lợi thế, sức lan toả phát triển vùng Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã được phát huy để hình thành khu công nghiệp, đô thị tại các tỉnh Long An, Tiền Giang, thành phố Cần Thơ...

Các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác với 13 tỉnh, thành phố đồng bằng sông Cửu Long 1.165 dự án với tổng kinh phí khoảng 280.000 tỷ đồng, tạo điều kiện hình thành mạng lưới sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nội địa và tạo nguồn xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cho Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết nối hạ tầng cơ sở được quan tâm với các dự án trọng điểm gồm: đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn - Đất Mũi, cầu Long Bình, luồng tàu biển lớn vào sông Hậu, Dự án kết nối vùng đồng bằng sông Cửu Long...

Chính phủ đã đầu tư xây dựng nhiều dự án công trình thủy lợi, thủy sản như: (i) Dự án Quản lý nước tỉnh Bến Tre; (ii) Hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre; (iii) Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé; (iv) Hệ thống thủy lợi tiểu vùng II, III, V Cà Mau; (v) Cống âu thuyền Ninh Quới; (vi) Dự án Tha La, cống Trà Sư; (vii) hạ tầng thủy sản, cảng cá, khu neo đậu cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long...

Các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, khắc phục sụt lún, sạt lở bờ sông bờ biển, bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội đang được triển khai thực hiện tập trung vào những vấn đề cấp bách

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu đã hỗ trợ 28 dự án. Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh đã hỗ trợ 20 dự án. Xử lý sạt lở cấp bách bờ sông, bờ biển, đoạn sụt lún, sạt lở trọng điểm; xây dựng bản đồ sạt lở, bố trí ngân sách xây dựng công trình phòng chống sạt lở, ưu tiên 36 dự án cấp bách. Các địa phương trong vùng cũng triển khai các dự án đầu tư nâng cấp đê biển kết hợp xây dựng hệ thống ngăn mặn, trữ ngọt...

Ban hành các tiêu chuẩn và chỉ dẫn kỹ thuật về sử dụng tro, xỉ, thạch cao làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong công trình xây dựng, góp phần hạn chế việc khai thác cát từ lòng sông để san nền.

Công tác bảo vệ môi trường nông thôn được quan tâm, chú trọng, đặc biệt là xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt khu dân cư và cải tạo cảnh quan. Xây dựng hệ thống cấp nước đủ công suất, đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất cho các tỉnh thành phía Tây Nam sông Hậu.

Công tác điều tra cơ bản, quan trắc được tăng cường; số liệu, dữ liệu liên ngành được thiết lập, cập nhật và hệ thống hóa để phục vụ hiệu quả cho công tác dự báo, hoạch định chính sách

Cập nhật và từng bước hệ thống hóa số liệu điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường, dữ liệu khí tượng, thủy văn, hải văn và bùn cát, tài nguyên nước. Hoàn thành và đưa vào sử dụng Trạm vùng quan trắc môi trường Tây Nam Bộ; đang xây dựng Trung tâm tích hợp dữ liệu vùng đồng bằng sông Cửu Long làm cơ sở cho việc tích hợp dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương.

Triển khai điều tra, đánh giá địa động lực hiện đại để hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu; khảo sát, đánh giá về sụt lún đất, đo kiểm tra các mốc cao độ hạng Nhà nước khu vực Nam Bộ, nghiên cứu sụt lún đất ở bán đảo Cà Mau; nghiên cứu khảo sát, đánh giá một số nguyên nhân sạt lở bờ sông, bờ biển, đề xuất các giải pháp phòng chống, đặc biệt đối với các điểm cấp bách, nguy hiểm. Xây dựng bản đồ ngập lũ năm 2018 vùng đồng bằng sông Cửu Long.

 Tăng cường mạng lưới quan trắc, giám sát các yếu tố khí tượng thủy văn, hải văn, biến động bùn cát, đo mưa tự động gồm 98 trạm khí tượng, 145 điểm đo mưa, 139 trạm thủy văn, 6 trạm hải văn và 154 điểm đo mưa, mực nước tự động, đo mặn.

Các địa phương đã điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ số xâm nhập mặn; đánh giá chế độ thủy văn, địa hình đáy, địa chất ven sông, kênh chính có nguy cơ sạt lở; khảo sát, đánh giá hiện trạng các nguồn khí thải ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hiện trạng môi trường khu vực cụm, tuyến dân cư nông thôn; chuyển giao 13/13 tỉnh, thành phố cơ sở dữ liệu cung cầu lao động

Nghiên cứu khoa học và công nghệ được đẩy mạnh cung cấp luận cứ, sáng kiến, giải pháp, công nghệ; công tác đào tạo, chuyển đổi nghề đã được quan tâm

Chuyển giao các kết quả nghiên cứu; cung cấp luận cứ khoa học, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng; tạo các giống cây trồng, cải tạo đất; phòng chống thiên tai, sụt lún, sạt lở bờ sông, bờ biển; nghiên cứu diễn biến nguồn nước, chất lượng nước và đề xuất các giải pháp khai thác thích hợp nhằm chuyển đổi cơ cấu sản xuất...

Tập trung triển khai một số nhiệm vụ khoa học công nghệ về: (i) giám sát tài nguyên nước mặt và cảnh báo hạn hán; (ii) đánh giá nguyên nhân gây ra xói lở bờ sông tại một số vùng trọng điểm và đề xuất một số định hướng về giải pháp công trình và phi công trình; (iii) thử nghiệm và đề xuất các giải pháp, công nghệ ngăn ngừa, phòng, chống, giảm nhẹ tác động khắc phục hậu quả của thiên tai; (iv) xây dựng hệ thống giám sát biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính...

Các địa phương trong vùng tích cực thực hiện một số hoạt động khoa học công nghệ về nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học, biến đổi gen, đề xuất mô hình chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp trên nền đất lúa; chuyển giao các mô hình sản xuất nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao...

Đã triển khai rà soát, sắp xếp lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp; chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, rút dần lao động nông nghiệp chuyển sang ngành công nghiệp, dịch vụ.

Hoạt động hợp tác quốc tế được thúc đẩy góp phần thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ cho đồng bằng sông Cửu Long

Đã phối hợp với Ngân hàng Thế giới xây dựng Chương trình hỗ trợ ngân sách có mục tiêu phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu với nguồn vốn vay IBRD 1,05 tỷ USD (tương đương 24.302 tỷ đồng). Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương liên quan hoàn thiện Chương trình, trình Thủ tướng Chính phủ.

Đã đẩy mạnh tham gia hiệu quả trong khuôn khổ hợp tác phát triển với các nước Tiểu vùng sông Mê Công và giữa các nước Tiểu vùng sông Mê Công với các đối tác phát triển. Thúc đẩy các quốc gia trong lưu vực hợp tác khai thác và sử dụng bền vững, công bằng tài nguyên, trong đó có nguồn nước, trên cơ sở hài hòa lợi ích với mục tiêu phát triển bền vững. Mở rộng và tăng cường các quan hệ đối tác chiến lược (trong đó có các cơ chế hợp tác, đối tác quan trọng như Thỏa thuận đối tác chiến lược Việt Nam - Hà Lan về thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước, WB, GIZ, JICA...). Đề xuất thiết lập, xây dựng các khuôn khổ hợp tác mới; tranh thủ tối đa các nguồn lực, kinh nghiệm về chuyển đổi sinh kế, nông nghiệp bền vững, phát triển hạ tầng đô thị, giao thông vận tải...

Đã hoàn thành đánh giá, đề xuất các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả Hiệp định Mê Công 1995, tăng cường hợp tác trong các cơ chế Mê Công, Mê Công - Lan Thương; thực hiện Đề án tổng thể về ảnh hưởng của phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Công tới đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả nêu trên, còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Nghị quyết số 120/NQ-CP như:

Về cơ chế đặc thù: Mặt dù đã có nhiều nỗ lực nhằm hình thành một số cơ chế đặc thù cho riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên các chính sách thúc đẩy phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn nằm trong khuôn khổ tổng thể chính sách phát triển chung của cả nước, do đó nhiều nhiệm vụ triển khai chậm tiến độ (xây dựng các tuyến đường giao thông, xử lý các điểm sạt lở bờ song, bờ biển...).

Về quy hoạch: Luật quy hoạch được ban hành với các yêu cầu và nội dung mới dẫn đến một số lúng túng trong quá trình rà soát, xây dựng quy hoạch, nhất là việc xây dựng quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Cửu Long theo phương pháp tích hợp. Bên cạnh đó Nghị quyết số 110/NQ-CP mới được Chính phủ ban hành cuối năm 2019 nên các nội dung quy hoạch ngành, địa phương để tích hợp vào quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa được hoàn thành theo tiến độ.

Về nguồn lực thực hiện: Nghị quyết 120/NQ-CP được ban hành sau khi Chương trình đầu tư công trung hạn 5 năm giai đoạn 2016 - 2020 đã được Quốc hội thông qua nên việc đề xuất bổ sung nguồn lực cho thực hiện các nhiệm vụ gặp khó khăn; phần lớn các công trình, dự án có tính liên vùng, liên ngành, có quy mô lớn nhằm thay đổi cơ bản bức tranh phát triển biền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn chưa được hình thành và thực hiện do chưa được bố trí nguồn lực.

Các nhiệm vụ điều tra cơ bản, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, triển khai mô hình thử nghiệm, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cũng chưa cân đối được nguồn lực, trong khi cơ chế khuyến khích, huy động nguồn lực dành riêng cho đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn trong quá trình xây dựng hoàn thiện phù hợp với các quy định chung của pháp luật về đầu tư, quản lý ngân sách.

Do vậy, để đồng bằng Sông Cửu Long phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của vùng, đóng góp nhiều hơn cho phát triển kinh tế của đất nước như yêu cầu của cử tri, trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương liên quan, Hội đồng điều phối vùng sẽ bám sát các nội dung Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định số 417/QĐ-TTg và Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ để nghiên cứu, tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, quy hoạch, liên kết vùng và huy động nguồn lực nhằm đưa đồng bằng sông Cửu Long có nhiều bước phát triển khởi sắc trong giai đoạn 2021-2025 sắp tới.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan