Thứ 2, 29/11/2021 - 22:31
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Lo lắng về tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, nước biển dâng, triều cường

Tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, nước biển dâng, triều cường như hiện nay, cử tri rất lo lắng vì không lường trước được hậu quả, nhất là đối với người dân sống vùng ven biển. Đề nghị Nhà nước quan tâm đầu tư hạ tầng đảm bảo an toàn cho người dân.

Bộ Tài nguyên và Môi trường kính gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bạc Liêu nội dung trả lời các kiến nghị của cử tri tỉnh Bạc Liêu như sau:

Tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, nước biển dâng, triều cường như hiện nay, cử tri rất lo lắng vì không lường trước được hậu quả, nhất là đối với người dân sống vùng ven biển. Đề nghị Nhà nước quan tâm đầu tư hạ tầng đảm bảo an toàn cho người dân 

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, triều cường đã và đang trở thành thách thức mà Việt Nam phải đối mặt, nhất là ở khu vực ven biển; chúng gây ra các biến động không có lợi về môi trường, mất đa dạng sinh học, phá huỷ hệ sinh thái, làm cho thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng khốc liệt, gây sạt lở bờ biển, ảnh hưởng trực tiếp đến các công trình và đời sống của người dân, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững các khu vực ven biển nước ta. Một trong những giải pháp ứng phó là đầu tư, xây dựng, củng cố các công trình hạ tầng ven biển thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải và các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

Trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong thời gian qua, để đảm bảo việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ, trong đó có việc phòng chống, giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện: 

Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật như Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, trong đó quy định nhiều biện pháp tổng thể để phòng chống, giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển như: triển khai nhiệm vụ lập Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, lập và thực hiện Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ. Nội dung các quy hoạch này cũng như yêu cầu của việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, thực hiện các chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ bao gồm các yêu cầu, định hướng, giải pháp phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng…; góp phần hạn chế, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển đang diễn ra tại các địa phương có biển.

 Đã xây dựng, trình Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/1018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Một trong những mục tiêu của Chiến lược là về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, trong đó yêu cầu “Có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển”. 

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17/12/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì triển khai thực hiện, trong đó bao gồm các nhiệm vụ, giải pháp góp phần hạn chế, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển. - Chính phủ đã tổ chức Hội nghị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu ngày 26 – 27/9/2017; ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; trong đó đề ra nhiều giải pháp, nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển như: xây dựng Đề án bảo vệ bờ biển, củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, phòng chống xói lở bờ biển; tập trung đầu tư xử lý ngay những đoạn xói lở, sạt lở bờ sông, bờ biển nghiêm trọng; tập trung xử lý vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, bảo đảm sử dụng hiệu quả số vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, nhất là đối với các dự án kiểm soát mặn, kiểm soát lũ, xử lý các đoạn sạt lở xung yếu; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư hiện có để xây dựng hệ thống cống điều tiết lũ, ngăn mặn, khắc phục các đoạn sạt lở nghiêm trọng, trực tiếp gây ảnh hưởng đến nhà cửa của nhân dân và bảo vệ đất, rừng ngập mặn ven biển... 

Ngày 7/11/2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì họp về tình hình sạt lở bờ biển và bồi lấp cửa sông các tỉnh ven biển miền Trung từ Nghệ An đến Bình Thuận, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục cả trong trước mắt và lâu dài. - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện, đôn đốc triển khai các nhiệm vụ thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” theo Quyết định số 47/2006/QĐTTg ngày 01/03/2006 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án 47). 

Kết quả thực hiện các nhiệm vụ của Đề án 47 đã góp phần quan trọng trong công tác quản lý về tài nguyên, môi trường biển nói chung cũng như việc phòng chống, giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển nói riêng như: đã khoanh định được các khu vực kém ổn định về địa chất công trình, đồng thời đã xác định các quá trình địa chất động lực công trình như hiện tượng ngập lụt, xói lở và bồi tụ; kiến nghị định hướng các giải pháp bảo vệ, khai thác vùng cửa sông, ven biển như: (1) Định hướng đề xuất các biện pháp xây dựng hệ thống đê ngăn cát giảm sóng bảo vệ bờ; (2) Đề xuất xây dựng đập hướng dòng, chắn sóng, chắn bùn cát tập trung dòng chảy tạo điều kiện giải phóng dần các bãi bồi chắn cửa, hạn chế sự bồi lấp tăng khả năng thoát lũ, tạo luồng giao thông; (3) Đề xuất nghiên cứu trồng cây chống sóng và ngăn cát bay, cát nhảy, ổn định bờ hạn chế sự phá hoại của sóng tràn; (4) Đề xuất các khu vực cần nuôi bãi nhân tạo, khôi phục lại vùng bờ biển bị xói, sạt; (5) Cung cấp tài liệu cơ bản phục vụ điều chỉnh bổ sung tuyến đê biển kết hợp giao thông, tuyến đê biển kết hợp an ninh quốc phòng...

Để phòng chống, khắc phục tình trạng sạt lở trong thời gian tới đòi hỏi các ngành, các cấp cần: tiếp tục triển khai đánh giá tổng thể, kỹ lưỡng tình hình xâm thực, diễn biến sạt lở bờ biển, bồi lấp, trước mắt cần có giải pháp cấp bách, bảo vệ an toàn cho người dân; ưu tiên đầu tư công trình xây dựng chống sạt lở bờ biển ở những nơi sạt lở nghiêm trọng; triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; nghiên cứu, áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với và tác động tiêu cực của sạt, lở bờ biển; đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển; các địa phương khẩn trương hoàn thành việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.

Cử tri đề nghị Nhà nước quan tâm về vấn đề ô nhiễm môi trường do nuôi tôm công nghiệp, có quan tâm nhưng xử lý về môi trường chưa triệt để vẫn còn nơi này nơi khác vi phạm ảnh hưởng đến môi trường sống của Nhân dân

Bộ Tài nguyên và Môi trường chia sẻ với những lo ngại của cử tri về vấn đề ô nhiễm môi trường do nuôi tôm công nghiệp, đây là ngành nuôi trồng thủy sản mang lại giá trị kinh tế cao nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, vệ sinh thú y của nhiều hộ nuôi tôm chưa thật sự tốt; việc sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh cấm trong cải tạo, xử lý nước để nuôi tôm; việc xả thải bùn từ ao nuôi tôm trực tiếp ra nguồn nước… 

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường, trong đó dự án đầu tư xây dựng cơ sở nuôi trồng thủy sản có diện tích mặt nước từ 10 ha trở lên phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và thuộc đối tượng phải vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải để được xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường trước khi đưa dự án đi vào hoạt động chính thức; các dự án có quy mô diện tích mặt nước từ 05 ha đến dưới 10 ha phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường. Với quy định trên thì các dự án nuôi tôm công nghiệp phải đảm bảo việc xử lý ô nhiễm môi trường thì mới được phép đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, ngành thủy sản và các tỉnh, thành phố đã ban hành nhiều quy định về vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản; có các mô hình, giải pháp nuôi tôm hiệu quả để bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, xử lý và tuần hoàn nước thải tái sử dụng trong nuôi tôm để chủ động nguồn nước và giảm thiểu việc xả thải ra môi trường.

Đối với hoạt động nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, trong năm 2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu đã phối hợp với UBND các huyện, thành phố ven biển tổ chức tập huấn về công tác bảo vệ môi trường và triển khai Quyết định số 01/2019/QĐ-UBND ngày 05/01/2019 của UBND tỉnh Bạc Liêu quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nuôi tôm siêu thâm canh trên địa bàn tỉnh trên đến từng hộ dân trên địa bàn các xã, phường, thị trấn, qua đó đã phát huy được hiệu quả. Bên cạnh đó, hiện tại Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đang phối hợp với Công ty TNHH MTV Long Mạnh hỗ trợ mô hình xử lý chất thải trong nuôi tôm siêu thâm canh quy mô hộ gia đình, đã bàn giao đưa vào sử dụng 01 mô hình cho hộ Võ Văn Tiến, ấp Long Hà, xã Điền Hải, huyện Đông Hải và đang tiếp tục 02 hộ ở thành phố Bạc Liêu, đây là mô hình phù hợp để các hộ dân có thể áp dụng rộng rãi góp phần bảo vệ môi trường.

Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tăng cường quản lý và kiểm soát ô nhiễm từ nuôi tôm công nghiệp bằng các giải pháp sau: 

Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác quản lý, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường, Nghị định sửa đổi Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo hướng kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường, tăng chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; có kế hoạch rà soát, xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản. 

Tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của đường dây nóng tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường của trung ương và địa phương; tập trung đẩy mạnh, làm tốt hơn việc tiếp nhận, xác minh và xử lý các thông tin; mở rộng hệ thống đường dây nóng đến cấp huyện, cấp xã nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc gây ô nhiễm môi trường, ngăn chặn đến mức thấp nhất các sự cố môi trường có thể xảy ra. 

Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương tăng cường và triển khai đồng bộ các giải pháp để giảm thiểu, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản trong đó có nuôi tôm công nghiệp, cụ thể như sau: Quan tâm thực hiện đúng quy hoạch nuôi trồng thủy sản; đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho hoạt động nuôi trồng thủy sản đồng bộ, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hệ thống kênh mương cấp nước và thoát nước phải đảm bảo theo quy định của ngành thủy sản cũng như điều kiện về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Tổ chức các hội thảo, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm các mô hình hiệu quả về bảo vệ môi trường trong nuôi tôm công nghiệp giữa các địa phương. 

Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nhất là thanh tra, kiểm tra đột xuất, tổ chức thanh tra, kiểm tra theo loại hình, vùng, theo hình thức cuốn chiếu để đánh giá đầy đủ, toàn diện, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm các vi phạm. Tổ chức thanh tra theo vùng để nắm bắt và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về môi trường. Đồng thời tiếp tục chỉ đạo các địa phương duy trì hoạt động giám sát thường xuyên đối với các dự án lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Đẩy nhanh tiến độ kết nối truyền số liệu quan trắc môi trường của các cơ sở phát sinh chất thải lớn trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi, giám sát. 

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường về các nội dung mà cử tri tỉnh Bạc Liêu quan tâm. Trân trọng kính gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bạc Liêu để thông tin đến cử tri được biết. 

Trân trọng cảm ơn./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan