Thứ 2, 20/09/2021 - 11:27
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri thành phố Hồ Chí Minh gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 04 ý kiến của cử tri thành phố Hồ Chí Minh do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Một là, cử tri mong muốn cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 về công tác quản lý đất đai, công tác quy hoạch, triển khai các dự án phải phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương, nhằm bảo hòa giữa quyền lợi của nhà nước và quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân. Trong đó cũng cần quan tâm việc thực hiện dự án của các chủ đầu tư, không để tình trạng kéo dài dự án không thực hiện do sự yếu kém của các chủ đầu tư.

Hiện nay, Luật Quy hoạch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch đã được Quốc hội thông qua và đã có hiệu lực thi hành;  trong đó, có nội dung quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như quy định đối với diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất, quy định này nhằm khắc phục tình trạng dự án kéo dài không thực hiện của các chủ đầu tư.

Về xử lý tình trạng dự án được nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chậm triển khai Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật quy định để giải quyết, cụ thể:

Quy định điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư; ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác (khoản 3 Điều 58) để sàng lọc nhà đầu tư kém năng lực.

Bổ sung quy định xử lý đối với trường hợp nhà đầu tư chậm đưa đất vào sử dụng (điểm h và điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013). Trong đó, Nhà nước thu hồi đối với đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục.

Đối với đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.”

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản yêu cầu các địa phương kiểm tra rà soát các dự án, công trình không triển khai hoặc chậm đưa đất vào sử dụng; hàng năm phải gửi kết quả rà soát, xử lý về Bộ Tài nguyên và Môi trường và công khai trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong năm 2019, các địa phương đã rà soát xử lý hơn 1.300 dự án chậm triển khai để lãng phí, hoang hóa đất với diện tích 18,8 nghìn ha.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai trong đó có nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, từng địa phương, bảo đảm hài hòa giữa quyền, lợi ích của người sử dụng đất, nhà nước, nhà đầu tư.

Hai là, cử tri tiếp tục đề nghị đề cao trách nhiệm trong quản lý và nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thường xuyên thanh tra, kiểm tra xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, phòng chống biến đổi khí hậu.

Về vấn đề nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường

Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng loạt các biện pháp để giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm môi trường từ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, thanh tra, kiểm tra, tăng cường hoạt động giám sát trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp cùng các Bộ, ngành, địa phương thực hiện các giải pháp tổng thể nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm nêu trên, cụ thể:

Xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi nhằm hạn chế, khắc phục các hạn chế, bất cập trong quy định của Luật bảo vệ môi trường hiện hành và các Luật có liên quan, kịp thời điều chỉnh các vấn đề quản lý mới phát sinh. Rà soát lại toàn bộ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, tiến hành sửa đổi các quy chuẩn bảo đảm tiệm cận với quy chuẩn của các nước tiên tiến, trên cơ sở đó xem xét ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường, đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật của địa phương phải cao hơn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với toàn bộ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các khu xử lý rác thải, bãi chôn lấp, các nguồn thải lớn có xả thải ra các lưu vực sông và các sông nhánh; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, kể cả biện pháp đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa.

Tiến hành phân vùng để áp dụng công nghệ xử lý tích hợp đối với từng nguồn nước. Với những nguồn nước đã và đang bị ô nhiễm, sớm nghiên cứu, áp dụng công nghệ cải tạo phù hợp. Bên cạnh đó, phải chú trọng công tác xử lý tại nguồn thông qua việc triển khai thực hiện tốt quy định về hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tại các đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu dân cư nông thôn tập trung.

Tăng cường nghiên cứu, áp dụng các công nghệ, biện pháp xử lý chất thải rắn tiên tiến. Song song với đó cần chú trọng nâng cao ý thức cho người dân về phân loại chất thải rắn tại nguồn, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn.

Không cho phép các dự án đầu tư chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, biện pháp quản lý chất thải rắn đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường đi vào hoạt động; các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có xả thải ra nguồn nước phải đảm bảo xử lý nước thải theo quy định. Kiểm soát chặt chẽ việc thẩm định, cấp phép xả nước thải vào nguồn nước.

Thực hiện lộ trình đưa các cơ sở sản xuất trong làng nghề di dời vào các cụm công nghiệp để có thể tập trung thu gom và xử lý chất thải. Có biện pháp kiểm soát chặt chẽ nước thải, chất thải trong sản xuất nông nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm nguồn tại khu vực nông thôn.

Về tăng cường đầu tư cho công tác ứng phó biến đổi khí hậu:

Việc bố trí nguồn lực, tăng cường đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu luôn được Chính phủ quan tâm, cụ thể:

Trong thời gian qua, Chính phủ đã huy động được gần 2 tỷ USD cho ứng phó với biến đổi khí hậu (riêng Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu SP-RCC huy động được khoản 1,4 tỷ USD vay lãi suất thấp). Các nguồn vốn huy động chủ yếu từ các đối tác phát triển như Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) 786 triệu USD, cơ quan phát triển Phát (AFD) 305 triệu USD, ngân hàng Thế giới (WB) hơn 300 triệu USD, ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (Eximbank Korea) 72 triệu USD. Bộ Ngoại giao Chính phủ Úc (DFAT) 16 triệu USD vốn không hoàn lại, cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) 4,52 triệu USD vốn không hoàn lại…

Trong tháng 6 năm 2020, Chính phủ đã hoàn thành đám phán với ngân hàng thế giới với khoản vay ưu đãi 86,48 triệu USD từ nguồn vốn IDA của một số dự án không sử dụng để triển khai Chương trình Hỗ trợ xây dựng chính sách về biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh lần thứ 2 (DPF2) nhằm mục tiêu hỗ trợ xây dựng và thực hiện các chiến lược, chính sách, chương trình, dự án ưu tiên ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống sạt lở, tập trung cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long nhằm góp phần triển khai kế hoạch thực hiện Thoả thuận Paris về biến đổi khí hậu và Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về huy động nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bằng sông Cửu Long:

Mặc dù còn khó khăn nhưng trong giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020 ngân sách Trung ương đã ưu tiên bố trí cho vùng đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ tương ứng với từng giai đoạn là 17% và 18,2% tổng kế hoạch nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ cho các địa phương. Căn cứ vào khả năng cân đối vốn dự phòng ngân sách trung ương, Thủ tướng Chính phủ đã hỗ trợ từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương cho các địa phương bị ảnh hưởng bởi thiên tai, ảnh hưởng biến đổi khí hậu và địa phương khó khăn về ngân sách để đầu tư các dự án xây dựng đê kè; dự án phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển; dự án di dân khẩn cấp do sạt lở bờ sông, bờ biển với tổng vốn đầu tư các năm 2016-2019 là 15.639,194 tỷ đồng (năm 2016 là 1.485,767 tỷ đồng; năm 2017 là 3.990,612 tỷ đồng; năm 2018 là 9.823,275 tỷ đồng; năm 2019 là 366,540 tỷ đồng).

Thực hiện Nghị quyết số 71/2018/QH14 ngày 12/11/2018 của Quốc hội về việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, theo đó, Quốc hội đồng ý sử dụng 10.000 tỷ đồng từ việc điều chỉnh giảm nguồn vốn cho các dự án quan trọng quốc gia để ưu tiên bố trí cho các dự án gia cố đê xung yếu, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, phòng, tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, di dời dân cư khẩn cấp ra khỏi khu vực có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất… Cùng với các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho các địa phương theo các chương trình mục tiêu, dự phòng ngân sách trung ương, Chính phủ cũng đã bố trí nguồn lực riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long để thực hiện phòng chống thiên tai, xây dựng và củng cố công trình kiểm soát lũ, mặn, công trình phòng chống sạt lở từ nguồn vốn ODA và vốn trái phiếu Chính phủ với tổng kinh phí 8.707 tỷ đồng trong giai đoạn 2010-2020; hỗ trợ để xử lý các điểm sạt lở bờ sông, bờ biển 2.500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng năm 2018 và nguồn dự phòng trung hạn 2016-2020.

Trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020, Thủ tướng Chính phủ đã giao kế hoạch vốn dầu tư công trung hạn từ nguồn ngân sách Trung ương cho các địa phương triển khai Chương trình với tổng kinh phí là 15.650 tỷ đồng cho 74 dự án (gồm 47 dự án thuộc hợp phần biến đổi khí hậu, 27 dự án hợp phần tăng trưởng xanh) và 71 dự án chuyển tiếp thuộc Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC). Riêng đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Chính phủ đã ưu tiên dành 40% tổng kinh phí từ Chương trình.

Tiếp tục thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA nhằm tranh thủ sự hỗ trợ nguồn lực quý giá về công nghệ, kỹ thuật và tài chính để đổi mới tư duy quản lý, đổi mới dây chuyền thiết bị, đổi mới phương thức phối hợp công tác về biến đổi khí hậu. Trong thời gian tới, trên cơ sở Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (NAP) được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 20/7/2020, Kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (dự kiến được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào cuối năm 2020), Việt Nam sẽ tiếp tục huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư, triển khai các dự án, nhiệm vụ liên quan. Nếu được Chính phủ phê duyệt chủ trương xây dựng Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh trong giai đoạn tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xem xét, đề xuất cấp kinh phí cần thiết cho các địa phương tiếp tục triển khai các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ba là, cử tri lo lắng trước tình trạng chặt phá rừng, việc sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở một số địa phương không theo quy hoạch. Cử tri đề nghị các Bộ, ngành, chính quyền các địa phương tăng cường công tác quản lý; thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài nguyên, khoáng sản; nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, trồng rừng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm

Trong thời gian vừa qua, việc cấp phép hoạt động khoáng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về khoáng sản và pháp luật liên quan, cấp theo quy hoạch khoáng sản đã được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản cơ bản đã hoàn thiện với: 01 Luật, 09 Nghị định (trong đó có 04 Nghị định mới được ban hành để thay thế); 06 Quyết định và 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; 62 Thông tư, Thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan. Các quy định của Luật khoáng sản và các văn bản dưới Luật theo hướng chặt chẽ, minh bạch và bền vững. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản và chấn chỉnh hoạt động khoáng sản của tổ chức, cá nhân. Theo đó, đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trong công tác bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường trong hoạt động khoáng sản. Qua kiểm tra, thanh tra và báo cáo định kỳ về công tác quản lý nhà nước về khoáng sản của các địa phương cho thấy hoạt động khoáng sản của các tổ chức, cá nhân đã dần đi vào nề nếp.

Tại Chỉ thị số 03/CT-TTg  ngày 30 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện nhiều giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản, nhất là công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về khoáng sản, thanh tra trách nhiệm đối với các tổ chức hành chính và người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường; kiểm tra, xử lý theo quy định đối với các cơ sở chế biến, sử dụng khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, các cơ sở chế biến có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Bộ Tài nguyên và Môi trường đều đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm của Bộ nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên đề theo từng loại khoáng sản; thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân để xử lý đối với các hành vi gây tổn thất lớn khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phối hợp với các địa phương trong việc nắm bắt thông tin, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

Nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục trong thời gian tới:

Các địa phương, các Bộ liên quan tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/CT-TTg, cương quyết xử lý người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra hoạt động khai thác khoáng sản nói chung, đất đồi nói riêng trái phép, gây bức xúc dư luận; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định tại Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Chỉ thị tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản để thay thế Chỉ thị số 03 nêu trên, trong đó đề xuất các giải pháp, nhiệm vụ cụ thể đối với từng Bộ, ngành liên quan, đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để triển khai thực hiện các quy định mới của 05 Nghị định trong lĩnh vực khoáng sản đã được ban hành từ khi có Chỉ thị số 03/CT-TTg đến nay.

Bốn là, kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu Thủ tướng Chính phủ quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bổ sung hình thức cấm xuất cảnh đối với những trường hợp chưa đóng phạt đầy đủ theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; có hướng dẫn cụ thể trong việc xác định và đo nguồn phát tiếng ồn để thuận tiện trong việc xử lý ô nhiễm tiếng ồn

Việc bổ sung hình thức cấm xuất cảnh đối với những trường hợp chưa đóng phạt đầy đủ theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận ý kiến của cử tri và đề nghị chuyển tới Bộ Tư pháp để xử lý theo đúng thẩm quyền. Đối với nội dung xử lý vi phạm về tiếng ồn, hiện nay đã có QCVN 26:2010/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn; đồng thời tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã có chế tài xử phạt đối với hành vi này. Tuy nhiên, việc xác định và đo nguồn tiếng ồn để phục vụ cho việc xử phạt vi phạm hành chính hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong trường hợp khu vực ô nhiễm tiếng ồn có nhiều nguồn phát sinh tiếng ồn dẫn đến khó xác định chính xác mức độ và đối tượng vi phạm. Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận ý kiến của cử tri và trong thời gian tới sẽ nghiên cứu để có giải pháp xử lý theo quy định.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan