Chủ nhật, 26/06/2022 - 13:08
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thực trạng khai thác sử dung tài nguyên nước của các ngành ở Việt Nam

Theo kết quả tính toán nhu cầu nước, hiện tại tổng nhu cầu nước hàng năm của các ngành vào khoảng 106,7 tỷ m3/năm (chiếm khoảng 11,5% tổng lượng nước hàng năm trên phạm vi cả nước), trong đó: nhu cầu nước cho nông nghiệp khoảng 78 tỷ m3/năm, chiếm khoảng 73,1%; thủy sản khoảng 16,35 tỷ m3/năm, chiếm khoảng 15,3%; công nghiệp khoảng 8,8 tỷ m3/năm, chiếm 8,3%.

So về cơ cấu sử dụng nước thì trong những năm gần đây, lượng nước sử dụng cho nông nghiệp có xu hướng giảm, nhu cầu sử dụng cho công nghiệp, du lịch, dịch vụ có xu hướng tăng. Ngoài ra, nhu cầu nước cho môi trường (sử dụng nước không tiêu hao, không tính vào cơ cấu sử dụng nước các ngành) vào khoảng 10,2 tỷ m3/năm.

Cấp nước sinh hoạt tập trung đô thị, nông thôn

Hiện toàn quốc có khoảng 4.500 hệ thống cấp nước tập trung cho cả đô thị và nông thôn với tổng công suất cấp nước thiết kế khoảng 10,9 triệu m3/ngày đêm, khai thác thực tế khoảng 8,3 triệu m3/ngày đêm, trong đó nước mặt chiếm 87%, nước ngầm 13%; tỷ lệ dân cư được cung cấp nước tập trung ở thành thị đạt 80%; ở nông thôn là 62%, với 16.573 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung. Khu vực đô thị có khoảng 829 nhà máy nước với tổng công suất đạt khoảng 10,6 triệu m3/ngày đêm(tăng 4,4 triệu m3/ngày đêm so với năm 2010). Tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 89% (tăng 13% so với năm 2010).

Cấp nước nông thôn: Tổng số công trình cấp nước tập trung nông thôn đã xây dựng khoảng trên 16.573 công trình, cấp nước sinh hoạt cho 28,5 triệu người. Phần lớn hệ thống cấp nước nông thôn được lấy từ nguồn nước dưới đất. Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh khoảng 88,5%, (Trong đó 51% sử dụng nước sạch đạt Quy chuẩn QCVN 01-1:2018/BYT); 56% dân số hiện đang sử dụng công trình cấp nước quy mô hộ gia đình.

Cấp nước đô thị: Khu vực đô thị có khoảng 829 nhà máy nước với tổng công suất đạt khoảng 10,6 triệu m3/ngày đêm (tăng 4,4 triệu m3/ngày đêm so với năm 2010). Tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 89% (tăng 13% so với năm 2010); tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch đô thị bình quân toàn quốc tính đến tháng 10 năm 2020 còn khoảng 19% (giảm 11% so với năm 2010). Các nhà máy nước khai thác, sử dụng nguồn nước mặt chiếm khoảng 70% tổng nguồn nước và 30% còn lại sử dụng nước ngầm.

Đối với hệ thống cấp nước đô thị, mặc dù đã có nhiều cải tiến và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân. Tuy nhiên, do áp lực về sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cao nên hệ thống cấp nước sinh hoạt đô thị còn gặp nhiều khó khăn, việc đầu tư phát triển cấp nước chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu, phạm vi bao phủ dịch vụ cấp nước còn thấp, chất lượng dịch vụ cấp nước cũng chưa ổn định. Nguồn nước dưới đất khai thác quá mức, tập trung tại một số đô thị: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cà Mau (tỉnh Cà Mau) dẫn đến hạ thấp mực nước lớn làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm, xâm nhập mặn và sụt lún đất.

Về bảo đảm chất lượng nước cấp, theo đánh giá của Bộ Xây dựng, thực tế hiện nay với tổng số 109 chỉ tiêu cần phải xét nghiệm theo các mức A (15 chỉ tiêu), B (16 chỉ tiêu) và C (78 chỉ tiêu) của quy chuẩn QCVN 01-1-2018/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về về chất lượng nước ăn uống hầu hết các cơ sở thực hiện thí nghiệm tại các tỉnh, thành phố (trừ Hà Nội và Hồ Chí Minh) không đủ thiết bị và điều kiện xét nghiệm đầy đủ 109 chỉ tiêu trên.

Tại đô thị, chất lượng nước của một số trạm cấp nước quy mô nhỏ tại khu đô thị mới, khu chung cư hay tại giếng khoan khai thác quy mô nhỏ lẻ còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu quy định như: chỉ số clo dư thấp, ô nhiễm asen, amôni, chỉ tiêu vi sinh và một số chỉ tiêu khác. Mạng lưới đường ống cấp nước đô thị trải qua nhiều giai đoạn đầu tư đã cũ, rò rỉ, gây tỷ lệ thất thoát nước cao, thậm chí có thể có sự xâm nhập của chất thải.

Mạng lưới truyền tải phân phối nước hầu hết chưa được vận hành tự động hoá, việc quản lý chủ yếu mang tính thủ công; chất lượng đường ống không đồng đều, nhiều tuyến ống cũ đã xuống cấp nghiêm trọng (khoảng trên 30% tuyến đường ống đã được lắp đặt trên 30 năm chưa được thay thế sửa chữa) cũng là những nguyên nhân dẫn tới việc chưa bảo đảm chất lượng nước cấp đến các đối tượng sử dụng nước.

Khai thác, sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp

Theo số liệu báo cáo của Bộ NN&PTNT, toàn quốc hiện có khoảng 900 hệ thống thuỷ lợi có quy mô diện tích phục vụ từ 200 ha trở lên; trong đó, có 122 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với diện tích phục vụ trên 2.000 ha. Tổng số công trình thủy lợi là 86.202 công trình, gồm: 7.342 đập, hồ chứa thủy lợi có dung tích trữ từ 0,05 triệu m3 (tổng dung tích trữ trên 14 tỷ m3) và có chiều cao đập từ 05 m trở lên; 19.416 trạm bơm; 27.754 cống; 15.975 đập dâng; 16.057 đập tạm; 291.013 km kênh mương các loại (82.744 km kênh mương đã được kiên cố). Xu hướng đầu tư, xây dựng các công trình thuỷ lợi đa mục tiêu cũng đã được quan tâm, triển khai trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây. Theo thống kê sơ bộ, hiện có khoảng 77 công trình thủy lợi đa mục tiêu trên các dòng chính sông lớn ở nước ta; trong đó có 08 công trình ở các lưu vực sông ở miền Bắc, 15 công trình ở Bắc Trung Bộ, 26 công trình ở Tây Nguyên, và 20 công trình ở vùng Đông Nam Bộ tập trung chủ yếu trên sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba, sông Kôn, sông Đồng Nai, sông Sê San và sông Srêpốk.

Nông nghiệp là ngành đứng đầu trong việc khai thác, sử dụng nước. Tổng nhu cầu sử dụng cho ngành nông nghiệp trên cả nước khoảng 78 tỷ m3/năm, chiếm khoảng 73,1% tổng nhu cầu sử dụng nước trên phạm vi cả nước và nguồn nước khai thác chủ yếu là nguồn nước mặt. Trong các lưu vực sông lớn thì các lưu vực sông có nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp lớn nhất vẫn là Đồng bằng Sông Cửu Long, sông Hồng và sông Đồng Nai.

Ngoài công trình thủy lợi, hệ thống các công trình thủy điện cũng góp phần rất lớn cấp nước cho các ngành đặc biệt cho nông nghiệp. Hiện tại, quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông đã được Chính phủ ban hành, theo đó, đã quy định trên 130 hồ chứa thủy điện, thủy lợi lớn có nhiệm vụ tham gia điều tiết nước đảm bảo nhu cầu sử dụng nước tối thiểu hạ du. Thống kê sơ bộ cho thấy, ước tính tổng dung tích toàn bộ các hồ chứa thủy điện lớn thuộc quy trình vận hành liên hồ chứa trên cả nước là 54 tỷ m3 đang tạo ra khoảng 16,5 nghìn MW và đảm bảo cấp nước tưới, tạo nguồn cấp nước cho hàng triệu ha. Trong đó, riêng lưu vực sông Hồng có tổng dung tích toàn bộ các hồ chứa lớn như Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang khoảng 28 tỷ m3… đang tạo nguồn cấp nước cho khoảng 480 nghìn ha diện tích đất nông nghiệp khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ; góp phần đẩy mặn và thau rửa hệ thống kênh mương thủy lợi; các hồ chứa lớn như Đơn Dương, Đại, Ninh, Thác Mơ, Phước Hòa, Trị An, Dầu Tiếng trên lưu vực sông Đồng Nai đang tạo nguồn cấp nước cho khoảng 260 nghìn ha; trên các lưu vực sông còn lại, hệ thống các hồ thủy điện lớn tạo nguồn cấp nước chính cho vùng hạ du và đồng bằng như đối với lưu vực sông Mã là khoảng 147,3 nghìn ha, lưu vực sông Cả là 73,7 nghìn ha; lưu vực sông Ba là 34 nghìn ha...

Đối với ngành nuôi trồng thủy sản: cũng như lúa gạo và các ngành nông sản khác, không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của nước trong sự tăng trưởng mạnh mẽ sản lượng nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây, với mức tăng trưởng bình quân trên 12%/năm, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia có mức cạnh tranh cao trên thế giới về cung ứng nguồn thủy - hải sản. Vùng có tỷ lệ cao nhất là ĐBSCL, sông Hồng-Thái Bình, nhóm sông Đông Nam Bộ, Đồng Nai và sông Mã với các tổng lượng nước sử dụng tương ứng: 5,8 tỷ m3, 0,7 tỷ m3, 0,63 tỷ m3, 0,4 tỷ m3 tương ứng các tỷ lệ 67%, 8,3%, 7,2%, 4,7% và 4,6%.

Khai thác, sử dụng nước cho công nghiệp

Việt Nam có 19 Khu kinh tế ven biển, 26 Khu kinh tế cửa khẩu,18/19 Khu kinh tế ven biển đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng hơn 858 nghìn ha, diện tích đất đã cho thuê trong các khu chức năng trong KKT đạt trên 40 nghìn ha, hiện có 37 KCN nằm trong các KKT với tổng diện tích khoảng 15,6 nghìn ha, trong đó 20 KCN đang hoạt động với tổng diện tích khoảng 8,5 nghìn ha và 19 KCN đang xây dựng cơ bản với tổng diện tích khoảng 7,1 nghìn ha.

Về số lượng các KCN, CCN: toàn quốc hiện có 395 KCN được thành lập với tổng diện tích khoảng gần 122 nghìn ha, 968 CCN được thành lập với tổng diện tích khoảng 30 nghìn ha. Các lưu vực có số lượng KCN cao nhất cả nước là lưu vực sông Hồng-Thái Bình, Cửu Long, Đồng Nai và nhóm lưu vực sông Đông Nam Bộ.

Về tình hình khai thác, sử dụng nước: khai thác, cấp nước cho CN được khai thác từ nguồn nước mặt, nước dưới đất và một phần từ hệ thống cấp nước tập trung, tổng lượng nước sử dụng của các ngành công nghiệp vào khoảng 8,84 tỷ m3/năm, chiếm khoảng 8,3% tổng lượng nhu cầu khai thác; trong đó chủ yếu là sử dụng nguồn nước mặt và tập trung phần lớn trên lưu vực sông Đồng Nai (chiếm 68,3% lượng nước cho công nghiệp của cả nước), lưu vực sông Hồng - Thái Bình (chiếm 15,5% tổng lượng nước cho công nghiệp của cả nước).

Theo tính toán, trong vòng 50 năm từ năm 2000 đến năm 2050 nước cần cho phát triển ngành công nghiệp tăng khoảng 400%. Tuy lượng nước sử dụng cho ngành công nghiệp là không lớn so với các ngành khác, chỉ chiếm 8,3% tổng lượng nước được khai thác, sử dụng, nhưng công nghiệp lại là ngành làm phát sinh lượng nước thải lớn có khả năng gây ô nhiễm cao, phần lớn từ hoá chất và khó xử lý. Trong khi tại nhiều quốc gia trên thế giới, việc tuần hoàn, tái sử dụng nước thải được tăng cường khuyến khích và thậm chí là yêu cầu bắt buộc đối với một số loại hình ngành sản xuất để giảm thiểu lượng nước thải xả ra môi trường và giảm áp lực đối với nguồn nước thì tại Việt Nam, tỷ lệ tuần hoàn, tái sử dụng nước thải trong sản xuất công nghiệp vẫn còn chưa cao.

Khai thác, sử dụng nước cho thủy điện

Tiềm năng thủy điện của Việt Nam là khá lớn, tập trung chủ yếu trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Đồng Nai, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San, Srêpốk… Theo số liệu cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt cho các công trình thủy điện, trên toàn quốc hiện có 705 (đến năm 2021) dự án thuỷ điện đã đi vào vận hành và đang được xây dựng, trong đó có 670 thủy điện có công suất từ trên 2 MW trở lên và 35 thủy điện có công suất dưới 2 MW với tổng công suất lắp máy là 30.080 MW, chiếm khoảng 30% tổng công suất lắp đặt của hệ thống điện quốc gia

Tổng dung tích các hồ chứa thủy điện trên toàn quốc khoảng 54 tỷ m3. Các hồ chứa thủy điện đã góp phần: (1) Cắt, giảm, làm chậm lũ cho hạ du góp phần vào việc làm giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra; (2) Tích nước, tham gia điều tiết cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất,... phía hạ lưu trong mùa cạn.

Hiện nay, khai thác thủy điện hầu như đã bão hòa. Các dự án thuỷ điện lớn như Sơn La (2.400MW), Hoà Bình (1.920MW), Lai Châu (1.200MW), Ialy (720MW), Trị An (400MW), Tuyên Quang (342MW) chủ yếu được xây dựng trên 13 bậc thang sông lớn (gồm: sông Đà, sông Lô - Gâm - Chảy, sông Mã, sông Cả, sông Rào Quán, sông Hương , sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Kôn, sông Trà Khúc, sông Ba, sông Sê San, sông Srêpốk, sông Đồng Nai) là các nhà máy đã được hoàn thành đưa vào vận hành khai thác, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về KT-XH, quốc phòng, an ninh; còn lại phát triển các dự án thuỷ điện nhỏ nằm trên sông nhánh với quy mô nhỏ. Xu hướng trong phát triển năng lượng là chuyển dần sang điện gió, điện mặt trời và các loại năng lượng khác.

Theo báo cáo của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), những năm gần đây, lượng nước không đủ đáp ứng nhu cầu phát điện, nhiều nhà máy khu vực Miền Trung, Tây Nguyên năng suất phát điện quý I/2020 chỉ đạt 15% kế hoạch năm; lượng nước trên các hồ thủy điện chỉ đạt dung tích khoảng 35% dung tích hữu ích; trong nửa đầu năm 2020, lượng nước trên các con sông thiếu từ 15-70%. Với tác động ngày càng bất lợi khó lường của BĐKH, việc tính toán, cân đối nhu cầu nước cho thuỷ điện với nhu cầu nước các ngành kinh tế khác là một thách thức lớn trong đảm bảo an ninh TNN.

Khai thác, sử dụng nước cho giao thông thủy

Việt Nam có mạng lưới sông suối dày đặc với tỉ lệ gần 0,6km/km2 (được xếp vào loại cao trên thế giới), vùng có mật độ sông ngòi cao nhất là ĐBSCL 0,68km/km2, sau đó là đồng bằng sông Hồng 0,45km/km2, thấp nhất là vùng Nam Trung Bộ; đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy nội địa với 124 cửa sông, trong đó có 89 cửa sông, kênh có thể khai thác vận tải với 57 cửa sông phương tiện đến 100 tấn có thể ra vào. Tổng chiều dài vận tải nội địa 17.253 km chiếm 41,2% chiều dài các sông đang được quản lý khai thác; trong đó Cục Đường thủy nội địa Việt Nam trực tiếp quản lý 7.071,8 km đường thủy nội địa (khu vực miền Bắc 3.044 km; miền Nam 2.969 km; miền Trung 1.167 km), các tuyến đường thủy do địa phương quản lý là 1864 tuyến với tổng chiều dài 16.966 km. Trên toàn quốc hiện có khoảng 300 cảng bao gồm 218 cảng hàng hóa, 12 cảng hành khách và 63 cảng chuyên dùng (tuyến ĐTNĐ quốc gia có 265 cảng (04 Cảng vụ ĐTNĐ trung ương quản lý 232 cảng, Cảng vụ ĐTNĐ địa phương quản lý 33 cảng); tuyến ĐTNĐ địa phương có 27 cảng) và 7.300 bến thủy nội địa.

Về cơ bản, việc khai thác, sử dụng sông, kênh cho phát triển hoạt động giao thông vận tải thuỷ từ trước đến nay chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, mức đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển, vốn đầu tư thấp.

Khai thác, sử dụng trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch

Theo thống kê, cả nước có 419 loại hình lễ hội, khu di tích, du lịch có liên quan đến nguồn nước, trong đó 86 loại hình lễ hội tổ chức trên nguồn nước là ao, hồ và 333 lễ hội diễn ra trên các sông, suối. Các lễ hội tập trung phần lớn ở lưu vực sông Hồng -Thái Bình với trên 50% loại hình, tiếp đến là các lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Hương và các sông khu vực Tây Nguyên như Sê San và Srêpốk.

Việc cung cấp và sử dụng nước cho các hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch nhìn chung đáp ứng được nhu cầu sử dụng tại chỗ, đảm bảo số lượng, chất lượng và vệ sinh nguồn nước sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề tồn tại, mang tính cục bộ, như:

- Tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, nơi không có hệ thống nước sạch của địa phương cấp thì vẫn phải khai thác, sử dụng nguồn nước ngầm (nước chủ yếu là nước mưa, giếng khoan hoặc xử lí nước biển thành nước ngọt), đặc biệt tại một số các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch và phục vụ khách du lịch.

- Một số khu du lịch tại khu vực miền núi như: Sa Pa, hải đảo Lý Sơn, Phú Quốc, Côn Đảo,… có nguồn nước ngọt hạn chế, như Sa Pa vào tháng 4/2019 đã từng xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt cho người dân và du khách.

- Hai Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia lớn nhất cả nước tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang sử dụng song song hai nguồn cung cấp nước là nguồn nước sạch sử dụng cho ăn uống và nguồn nước giếng khoan đã qua xử lí nhưng chưa đảm bảo tuyệt đối theo tiêu chuẩn cho vệ sinh và các sinh hoạt khác.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan