Thứ 7, 02/07/2022 - 06:38
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thực tiễn về lấn biển và quản lý hoạt động lấn biển ở nước ta

Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng mở, hầu hết các khu kinh tế được thành lập đều ở ven biển. Tính đến nay, Chính phủ đã quy hoạch, thành lập 19 khu kinh tế ven biển. Bên cạnh đó là gần 30 khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung ven biển đang hoạt động.

Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km với 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giáp biển (chiếm tới gần ½ diện tích và dân số của cả nước), có 136 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (trong đó có 12 huyện đảo) và 675 xã, phường, thị trấn tiếp giáp biển; dọc bờ biển Việt Nam có trên 50% số đô thị lớn của cả nước, có 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc - Trung - Nam. Vùng ven biển nước ta là nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có nhiều hệ sinh thái quan trọng, tài nguyên phong phú, đa dạng, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước.

Trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng mở, hầu hết các khu kinh tế được thành lập đều ở ven biển. Tính đến nay, Chính phủ đã quy hoạch, thành lập 19 khu kinh tế ven biển. Bên cạnh đó là gần 30 khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung ven biển đang hoạt động.

Khu vực ven biển là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và đất liền, là nơi chịu tác động từ hoạt động trên vùng đất ven biển và cung cấp nguồn tài nguyên và các giá trị để phát triển vùng đất ven bờ, đồng thời, đây cũng là nơi sinh ra và duy trì các hệ sinh thái có giá trị và cũng chịu tác động nhiều nhất bởi các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo xu thế chung, khu vực ven biển sẽ là tâm điểm cho sự phát triển trong tương lai với sự gia tăng dân số, mở rộng các ngành công nghiệp, du lịch và quá trình đô thị hóa. Là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lấn biển cũng được coi là một giải pháp thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, do nhu cầu và sự phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động ở vùng bờ cộng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dẫn đến những tác động đến điều kiện tự nhiên, các hệ sinh thái, tài nguyên, môi trường. Hiện nay, vùng biển ven bờ đang bị đe dọa với vấn đề suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường, xói lở bờ biển, tạo sức ép lớn lên môi trường, hệ sinh thái và tài nguyên vùng ven biển.

Hoạt động khai hoang, lấn biển đã được ông cha ta tiến hành rất sớm, từ thời đại phong kiến nhà Trần (Trần Nhân Tông - 1248), nhưng diễn ra mạnh mẽ, quy mô lớn từ thế kỷ 15. Vào thế kỷ 15, nhà Lê đã khuyến khích các công trình khai hoang, lấn biển và nhờ đó đã lập ra nhiều làng mới ven biển các tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình (ngày nay); đặc biệt là thời nhà Nguyễn, khai hoang, lấn biển đã trở thành quốc sách, có ngành quan “danh điền sứ” trông coi.

Sau năm 1954, Nhà nước ta đã chủ trương tiến hành khai hoang xây dựng các vùng kinh tế - dân cư mới. Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 5 (khóa III) tháng 7/1961 đã nêu “Phải tận dụng những đất còn bỏ hoang, bỏ hóa, những bãi bồi ven sông, ven biển”. Để quản lý việc này, Chính phủ đã thành lập Cục Khai hoang nhân dân thuộc Bộ Nông trường; sau đó là Tổng cục Khai hoang trực thuộc Hội đồng Chính phủ (từ tháng 02 năm 1963), chịu trách nhiệm về hoạch định kế hoạch và tổ chức khai hoang. Cũng trong năm 1963, Chính phủ đã thành lập và quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy khai hoang của địa phương. Sau khi thống nhất đất nước (1975), việc lấn biển, khai thác các bãi bồi và bảo vệ đất đai, chống xói lở bờ biển càng được chú trọng đặc biệt.

Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những năm gần đây, ngày càng có nhiều dự án lấn biển ra đời. Nhiều dự án lấn biển đã và đang được thực hiện[1] ở hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển với quy mô khác nhau nhưng các dự án lấn biển có quy mô lớn tập trung tại tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Kiên Giang… Các dự án lấn biển đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội thời gian vừa qua, làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn ở khu vực ven biển, hải đảo.

Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị thu được thì hoạt động lấn biển cũng có rất nhiều vấn đề phải quan tâm, giải quyết. Các công trình, hoạt động lấn biển có thể làm thay đổi điều kiện tự nhiên, địa hình, cảnh quan; ảnh hưởng, làm thay đổi chế độ thủy động lực của khu vực, làm thay đổi dòng chảy ven bờ, gây bồi lắng, sạt lở ở khu vực lân cận và gây xói lở bờ, làm mất an toàn cho chính các công trình; hoạt động lấn biển cũng có thể gây ra tác động không nhỏ đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tài nguyên biển, tác động tiêu cực tới đời sống, sinh kế, gây ra các vấn đề xã hội khác của cộng đồng dân cư ven biển.

 


[1] Dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN - cảng biển - phi thuế quan Nam Đình Vũ (Hải Phòng) rộng 1.329ha; KĐT du lịch Hùng Thắng (Bãi Cháy - Quảng Ninh) rộng 224ha; KĐTM Halong Marina rộng 230ha; Khu đô thị quốc tế Đa Phước (Đà Nẵng) rộng 210ha, KĐT sinh thái biển Phương Trang New Town rộng 117ha (Đà Nẵng); Dự án Saigon Sunbay hơn 600ha (Cần Giờ, TP.HCM); KĐTM Rạch Giá (Kiên Giang) rộng 420ha…

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan