Thứ 4, 25/05/2022 - 16:57
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sự cần thiết của Quy hoạch Tài nguyên nước thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Triển khai Quyết định Quyết định số 1748/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và để giải quyết các vấn đề về tài nguyên nước phục vụ công tác quản lý, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, thì việc xây dựng Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là cần thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển và yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước của quốc gia.

Nước ta có 106 lưu vực sông với khoảng 3.450 sông, suối tương đối lớn (chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 10 hệ thống sông lớn (diện tích lưu vực lớn hơn 10.000 km2 ), bao gồm: sông Hồng - Thái Bình, sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu Long. Tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm khoảng 840 tỷ m 3 tập trung chủ yếu hơn 97% ở 19 LVS và nhóm LVS lớn, trong đó hơn 60% lượng nước đến từ nước ngoài. Trữ lượng tiềm năng nước dưới đất khoảng 93 tỷ m 3 /năm. Nước dưới đất phân bố ở 26 đơn vị chứa nước lớn, tập trung chủ yếu ở hạ lưu lưu vực sông Hồng – Thái Bình và lưu vực sông Cửu Long.

Tài nguyên nước (TNN) của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề: thiếu nước mùa khô, nguồn nước ở một số LVS đã và đang có dấu hiệu suy giảm về cả trữ lượng và chất lượng. Hạn hán, xâm nhập mặt, ngập lụt, lũ quét, sạt, lở bờ sông, ô nhiễm cục bộ nguồn nước…. đã và đang là rào cản, ảnh hưởng đến đầu tư, phát triển kinh tế, môi trường, văn hóa, xã hội, và hệ sinh thái thủy sinh phụ thuộc nguồn nước. Phát triển kinh tế, xã hội đặt ra yêu cầu lớn đối với TNN và thực sự là một sức ép lớn đối TNN của quốc gia như: gia tăng nhu cầu sử dụng nước, khai thác quá mức tài nguyên nước, nảy sinh mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nguồn TNN. Gia tăng nhu cầu sử dụng nước đồng nghĩa với việc gia tăng lượng nước thải thải vào nguồn nước, trong khi đó, hệ thống thu gom xử lý nước thải chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý. Bên cạnh đó, tác động của BĐKH đến TNN ngày càng rõ rệt: xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng ở lưu vực sông Đồng Nai, Cửu Long, Vu Gia – Thu Bồn, Mã, Cả, Trà Khúc, Hồng – Thái Bình, và nhóm các lưu vực sông ven biển… hạn hán, ngập lụt, lũ ống, lũ quét sạt, lở bờ sông xuất hiện với tần xuất nhiều hơn, và có xu hướng bất thường, khốc liệt hơn...

Bên cạnh những vấn đề nội sinh, vấn đề ngoại sinh đó là 60% TNN mặt của Việt Nam đến từ thượng lưu của các sông quốc tế mà Việt Nam nằm ở hạ lưu. Phát triển ở thượng lưu, đặc biệt là gia tăng khai thác, sử dụng nước, phát triển xây dựng hồ chứa, công trình chuyển nước phía thượng lưu là một trong yếu tố tiềm ẩn làm gia tăng những rủi ro trong công cuộc đảm bảo an ninh tài nguyên nước quốc gia, chủ động và đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam.

An ninh tài nguyên nước của Việt Nam trong tương lai sẽ phụ thuộc vào việc giải quyết một loạt những vấn đề quan trọng liên quan đến tình trạng căng thẳng về nước, suy giảm nhanh chất lượng nước, và những rủi ro thiên tai liên quan đến nước. Mức độ gia tăng nhanh chóng về nhu cầu sử dụng nước sẽ gây ra căng thẳng về nguồn tài nguyên nước vào mùa khô tại 11 trên tổng số 15 lưu vực sông lớn ở Việt Nam, đặc biệt đối với LVS Cửu Long và LVS Hồng – Thái Bình có đến 95% và 40% lượng nước đến từ nước ngoài. Thêm vào đó, sự cạnh tranh về nhu cầu sử dụng nước ở nhiều ngành khác nhau ngày càng tăng, trong bối cảnh chất lượng nước ngày một kém đi. Bên cạnh đó, tác động biến đổi khí hậu làm cho các thách thức về nước càng trầm trọng hơn và càng đặt ra nhu cầu quản lý tài nguyên nước một cách hiệu quả hơn.

Một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Việt Nam của Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững đã nêu rõ: “Đảm bảo đầy đủ và quản lý bền vững tài nguyên nước và hệ thống vệ sinh cho tất cả mọi người” (Mục tiêu 6 - Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ). Để đạt được mục tiêu này, một trong các nội dung của kế hoạch đó là: (1) - Đến năm 2030, tăng đáng kể hiệu quả sử dụng nước trong tất cả các lĩnh vực, đảm bảo nguồn cung nước sạch bền vững nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nước, giảm đáng kể số người chịu cảnh khan hiếm nước. Bảo đảm việc khai thác nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt quá trữ lượng có thể khai thác đối với các tầng chứa nước; (2) - Đến năm 2030, thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, bao gồm cả nguồn nước xuyên biên giới thông qua hợp tác quốc tế; (3) - Đến năm 2030, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái liên quan đến nước.

Trong những năm qua, công tác quản lý TNN đã và đang đạt được những thành quả đáng khích lệ, Luật TNN, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật và các Thông tư ban hành đã và đang là những công cụ quản lý hiệu quả. Các quy định mới được điều chỉnh, bổ sung trong Luật TNN phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý TNN trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới. Tuy nhiên, công tác quản lý TNN vẫn còn rất nhiều khó khăn. Một trong những khó khăn đó là thiếu công cụ quản lý, cụ thể, đó là quy hoạch TNN chưa được xây dựng. Việc thực hiện QH TNN hay các quy hoạch chuyên ngành có liên quan đến TNN mới chỉ được đầu tư ở cấp tỉnh/thành phố và ở lĩnh vực ngành, các quy hoạch này chỉ tập trung trong phạm vi của tỉnh hoặc đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng của từng ngành mà chưa xem xét, đánh giá toàn diện tiềm năng nguồn nước, nhu cầu sử dụng của các ngành, chia sẻ nguồn nước cho các ngành khác, giữa thượng lưu và hạ lưu, cũng như nhu cầu đảm bảo dòng chảy môi trường và duy trì hệ sinh thái thủy sinh…. Quản lý theo quy hoạch là một trong những cơ sở, tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.

Một trong những mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp TNN đó là: “Bảo đảm quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, toàn diện và hiệu quả cao nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia cho trước mắt và lâu dài, góp phần phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh trước diễn biến của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm của nguồn nước”. Để đạt được mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ chủ yếu đó là: “Xây dựng quy hoạch tài nguyên nước quốc gia”.

Nhiệm vụ lập quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1748/QĐ-TTg ngày 04/12/2019, trong đó đã quy định nội dung, phạm vi, đối tượng và thời gian thực hiện lập quy hoạch tài nguyên nước.

Triển khai thực hiện Quyết định nêu trên của Thủ tướng Chính phủ, bên cạnh đó để giải quyết các vấn đề về tài nguyên nước phục vụ công tác quản lý, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, xây dựng quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là cần thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển và yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước của quốc gia.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan