Thứ 6, 30/09/2022 - 08:31
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những bất cập, tồn tại, hạn chế trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về BVMT khu công nghiệp

Bên cạnh nhưng kết quả đạt được, công tác quản lý môi trường đối với các khu công ngiệp (KCN) cũng bộc lộ một số bất cập, tồn tại. 

Công tác BVMT trong KCN chịu sự chi phối của nhiều luật liên quan. Qua thực tiễn triển khai cho thấy, quy định pháp luật về BVMT cơ bản phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo được sự chuyển biến và bước đầu đạt được một số kết quả có tác động tích cực, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Tuy nhiên một số văn bản hướng dẫn thực hiện chưa được ban hành, chưa thể thực hiện, chưa đáp ứng được các yêu cầu phát sinh trong thực tế[1]... gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước cũng như triển khai các hoạt động BVMT trong KCN. Các loại thuế, phí về môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả chi phí xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường”, “người hưởng lợi từ giá trị môi trường phải trả tiền” chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế; chưa tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường; việc phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải, giảm phát thải, tiến tới mô hình KCN không phát thải; phát triển KCN sinh thái; khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT KCN còn chậm triển khai trong thực tế. Công tác lập, thực hiện quy hoạch KCN chưa phù hợp, gây áp lực cho công tác BVMT. Đặc biệt, nhận thức của một số Bộ, ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng về công tác BVMT chưa cao, thiếu thống nhất, chưa kịp thời đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.

Tại các địa phương, còn 65% KCN đã đi vào hoạt động nhưng chưa được cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT; có các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp đã đi vào hoạt động trong các KCN nhưng chưa hoàn thiện hồ sơ, thủ tục pháp lý về BVMT; 10,7% KCN đã đi vào hoạt động, thu hút đầu tư nhưng chưa xây dựng hệ thống XLNT tập trung; việc đấu nối, thu gom, xử lý nước thải, thoát nước mưa chảy tràn tại một số KCN còn bất cập, khó kiểm soát; chất lượng nước thải không ổn định, có thời điểm không đạt quy chuẩn xả thải và đã bị xử phạt. Tại một số KCN, hệ thống XLNT tập trung vận hành chưa hiệu quả, có tình trạng mạng lưới thu gom và hệ thống thoát nước mưa, nước thải, hệ thống XLNT chưa được thường xuyên duy tu, bảo dưỡng định kỳ để bảo đảm luôn trong điều kiện vận hành bình thường[2]; nhiều KCN chưa có công trình phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP và Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT để kiểm soát nước thải trước khi xả ra môi trường; nhiều KCN mặc dù đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng lượng nước thải thu gom quá ít, không đủ để vận hành thường xuyên, không hiệu quả. Công tác dự báo phát sinh nước thải, xây dựng hệ thống XLNT chưa sát với tình hình thực tế gây lãng phí nguồn lực đầu tư[3].

Việc quản lý khí thải tại một số KCN còn nhiều bất cập. Một số doanh nghiệp đầu tư thứ cấp đã hoạt động từ lâu, sử dụng công nghệ cũ, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường không khí cao. Vẫn còn một số doanh nghiệp trong KCN không tuân thủ đầy đủ quy định về đăng kí nguồn thải theo quy định. Một số địa phương chưa quy hoạch địa điểm lưu giữ, xử lý chất thải nguy hại; công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thu gom, xử lý chất thải còn một số hạn chế, bất cập, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Qua kết quả rà soát cho thấy, còn 12,4% số KCN chưa đầu tư lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục và truyền dữ liệu về Sở TN&MT; một số KCN đã đầu tư hệ thống quan trắc tự động, liên tục nước thải nhưng chưa truyền dữ liệu về Sở TN&MT theo quy định. Hệ thống quan trắc tự động, liên tục của các cơ sở chưa thực sự hoàn chỉnh, thiếu tính ổn định, chế độ duy tu bảo dưỡng chưa thường xuyên.

Tại một số địa phương, công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định pháp luật về BVMT chưa được đẩy mạnh, việc kiểm tra, thanh tra chưa được thực hiện thường xuyên; chưa kiên quyết và chưa có giải pháp hữu hiệu trong xử lý một số điểm nóng, điểm đen về ô nhiễm môi trường kéo dài. Một số cơ sở sản xuất chưa nghiêm túc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, chậm khắc phục hậu quả.

Đầu mối quản lý về môi trường KCN ở một số địa phương còn phân tán, không thống nhất về việc giao thẩm quyền cho Ban Quản lý KCN và Sở TN&MT. Nhiều địa phương chưa xây dựng, ban hành Quy chế phối hợp giữa Ban Quản lý KCN và các ngành chức năng có liên quan trong công tác QLNN về môi trường hoặc đã ban hành nhưng Quy chế không bảo đảm sự phối hợp, quản lý tốt giữa doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN với các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong công tác BVMT.

Nhân lực làm công tác quản lý về BVMT ở các Ban Quản lý KCN nhìn chung còn thiếu, chưa bố trí đủ biên chế theo quy định từ 5 cán bộ có chuyên môn chuyên trách về BVMT theo quy định[4]. Một số Công ty kinh doanh hạ tầng KCN chưa bố trí đủ cán bộ có chuyên môn về môi trường để đáp ứng việc quản lý, giám sát và vận hành các công trình BVMT tại KCN. Việc bố trí nhân sự làm công tác BVMT tại một số doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong KCN còn rất hạn chế, không đủ về số lượng, chỉ bố trí kiêm nhiệm hoặc bố trí cán bộ không đúng chuyên môn về BVMT… 

Công tác báo cáo, cập nhật thông tin từ các chủ đầu tư KCN, Ban Quản lý KCN, các địa phương chưa được thực hiện đúng theo quy định tại Thông tư số 19/2016/TT-BTNMT, Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT của Bộ TN&MT[5] dẫn đến việc đánh giá diễn biến chất lượng môi trường tại các KCN chưa được đầy đủ và chính xác, khách quan.

Nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác BVMT nói chung và đầu tư cho BVMT các KCN nói riêng còn hạn chế. Chi sự nghiệp BVMT trung ương bố trí không lớn nhưng kết quả giải ngân vốn thấp, số hủy dự toán cao[6]; còn không ít địa phương bố trí chi sự nghiệp BVMT không đạt tỷ lệ theo quy định[7]. Chưa có quy định tỷ lệ chi từ nguồn thu thuế BVMT được sử dụng để đầu tư trực tiếp cho công tác BVMT; chưa có quy định về việc sử dụng nguồn vốn dự phòng từ ngân sách trung ương ưu tiên bố trí cho các chương trình, dự án BVMT các KCN.

Nhiều địa phương chưa triển khai thành lập và vận hành quỹ BVMT địa phương (20/63 tỉnh, thành phố); quy mô Quỹ BVMT trung ương và địa phương còn khá khiêm tốn[8]. Nguồn vốn từ Quỹ BVMT chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư cho những hạng mục công trình BVMT, nhất là những dự án có quy mô lớn như công trình XLNT KCN. Việc tổ chức thực hiện đầu tư công trình XLNT tập trung theo Nghị quyết 73/NQ-CP ngày 26/8/2016 của Chính phủ chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù các dự án xây dựng nhà máy XLNT tập trung là đối tượng ưu tiên theo quy định tại Chương trình mục tiêu, nhưng số dự án và tổng vốn hỗ trợ cho các dự án trong trung hạn còn thấp và chưa cân đối đủ so với nhu cầu của các địa phương. Một số địa phương chưa ưu tiên đề xuất, bố trí ngân sách cho các dự án, công trình nhà máy XLNT tập trung trong KCN. Ngoài nguồn vốn từ ngân sách, các nguồn vốn khác đầu tư cho BVMT cũng rất hạn chế, từ ODA, các tổ chức, doanh nghiệp đều ở mức thấp so với yêu cầu của công tác BVMT.

Công tác phổ biến chính sách pháp luật, hướng dẫn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện các quy định pháp luật về BVMT còn hạn chế, chưa kịp thời.

 


[1] Hướng dẫn xác định hạn ngạch xả nước thải vào các nguồn tiếp nhận; xây dựng, ban hành và phân bổ hạn ngạch xả nước thải đối với các lưu vực sông liên tỉnh; quản lý trao đổi hạn ngạch xả nước thải; thiếu QCKT, hướng dẫn kỹ thuật về khoảng cách ly an toàn, khoảng cách an toàn về môi trường đối với các công trình BVMT đặc thù nên rất bất cập trong việc áp dụng tiêu chuẩn, QCKT liên quan đến khoảng cách an toàn,..; Giấy phép xả thải khí thải công nghiệp; Chưa có quy định cụ thể về việc sử dụng chung hệ thống XLNT của KCN và các doanh nghiệp trong và ngoài KCN; quy định trách nhiệm của Ban Quản lý các KCN trong việc xử lý các thủ tục môi trường để đảm bảo cơ chế một cửa.

[2] Hệ thống XLNT tập trung của KCN Lễ Môn, tỉnh Thanh Hóa hoạt động không hiệu quả; hệ thống XLNT tập trung của KCN Đình Hương - Tây Bắc Ga (giai đoạn 1), tỉnh Thanh Hóa đã cũ, xuống cấp, lạc hậu; việc vận hành thử để hiệu chỉnh hệ thống XLNT của nhà máy xử lý nước thải KCN Phong Khê, tỉnh Bắc Ninh kéo dài, tại thời điểm giám sát vẫn chưa vận hành ổn định.

[3] Trung bình, lượng nước thải phát sinh và xử lý thực tế khoảng 510.145 m3/ngày đêm, chiếm khoảng 50% công suất xử lý nước thải của các trạm XLNT tập trung đã xây dựng khoảng 1.031.000 m3/ngày đêm.

[4] Tại Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các KCN tỉnh Thanh Hóa, số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn về môi trường ít (02 công chức); trong khi phạm vi địa bàn quản lý rộng (08 KCN và 01 KKT), do đó rất khó khăn cho công tác chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ. Tại Ban quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ bố trí 03 cán bộ làm việc tại Phòng Quản lý TN&MT và bố trí 03 kỹ sư làm việc tại Công ty phát triển hạ tầng KCN.

[5] Đến tháng 3/2020, Bộ TN&MT chỉ nhận được  báo cáo của 30 tỉnh và 01 Bộ.

[6] Năm 2018 phân bổ vốn trong nước đạt 56,53%, số hủy dự toán là 525,542 tỷ.

[7] Năm 2018 có 07 địa phương, năm 2019 có 13 địa phương bố trí chi ngân sách sự nghiệp BVMT dưới 1%.

[8] Quỹ BVMT Việt Nam với nguồn vốn hoạt động năm 2018 là 1.379,88 tỷ đồng.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan