Thứ 5, 18/08/2022 - 03:24
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế

Theo Chương trình hành động của Bộ TN&MT được ban hành kèm theo Quyết định số 2184/QĐ-BTMT ngày 05/10/2020 về việc ban hành Chương trình hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế nhấn mạnh tới các nhóm nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để thực hiện.

Các nhiệm vụ đã giao tại các văn bản trước đây: Các đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, trong đó rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản tại Phụ lục 1 kèm theo Chương trình này  nhằm sửa dụng hiệu quả và phát huy tối đa các nguồn lực báo cáo Bộ để tổng hợp.

Các nhiệm vụ phát sinh mới

Đối với nguồn nhân lực

Đề xuất ban hành các chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao từ nước ngoài làm việc trong các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ.

Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu lao động; Đẩy mạnh việc đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo cho lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách kahcs, gắn đào tạo với giải quyết việc làm.

Đổi mới công tác quản lý và phương thức hoạt động của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, xã hội... trong phát triển nguồn nhân lực; phát triển mạnh hệ thống thông tin đại chúng, mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực cho người dân tiếp cận thông tin, thụ hưởng các dịch vụ.

Đẩy mạnh quá trình trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, tổ chức sự nghệp công lập trong quản lý, sử dụng nhân lực.

Thực hiện giám sát xã hội, bảo đảm vai trò giám sát của cộng đồng, phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc giám sát chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về tài nguyên và môi trường.

Đối với nguồn vật lực

Tài nguyên đất: Sửa đổi, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách tạo khung khổ pháp lý điều chỉnh hạn điền, thực hiện tích tụ tập trung ruộng đất để cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển các vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.

Tài nguyên nước: Sửa đổi, bổ sung Luật tài nguyên nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; Xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định kỹ thuật điều tra cơ bản về tài nguyên nước; Xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách xã hội hóa các hoạt động bảo vệ tài nguyên nước; cơ chế chính sách tạo thị trường chuyển nhượng chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước; Xây dựng chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước, trong đó tập trung vào các vùng khó khăn, khan hiếm nước; thực hiện kiểm kê tài nguyên nước; hoàn thành xây dựng toàn bộ quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Triển khai các giải pháp lưu giữ và sử dụng tiết kiệm các nguồn nước.

Xây dựng và vận hành hệ thống mạng quan trắc tài nguyên nước; Giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. Hạn chế khai thác nước ngầm ảnh hưởng đến sụt lún, cạn kiệt nguồn nước ngầm tại các đô thị.

Rà soát, hoàn chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông; Xác định, công bố dòng chảy tối thiểu dòng chính các lưu vực sông lớn; ngưỡng giới hạn khai thác nước dưới đất của các vùng kinh tế trọng điểm.

Xác định, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước; Kiểm soát được các cơ sở khai thác nước, nguồn xả thải trên các lưu vực sông thông qua hệ thống giám sát tài nguyên nước; Ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm hành vi gây ô nhiễm nguồn nước.

Tài nguyên khoáng sản: Đánh giá đầy đủ, thực chất tiềm năng tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sản ẩn sâu; kiểm kê thực trạng nguồn lực tài nguyên khoáng sản của đất nước để hạch toán đầy đủ, đúng đắn trong nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khoáng sản; khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả tất cả các loại khoáng sản đang khai thác để phát huy tối đa vào các ngành kinh tế, đưa ngành công nghiệp khai khoáng phát triển theo hướng bền vững.

Hoàn thành công tác đánh giá tác động toàn diện các chính sách, quy định của Luật khoáng sản theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước năm 2020; trên cơ sở đó xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản; hoàn thiện các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản. Trên cơ sở đó tăng cường công tác tuyên tuyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản bằng nhiều hình thức, sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

Tăng cường và nâng cao chất lượng nguồn lực về nhân lực; vốn đầu tư, công nghệ, thiết bị để nâng cao năng lực công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản để thực hiện tốt quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, đánh giá đầy đủ tiềm năng, trữ lượng tài nguyên khoáng sản đất nước trong từng giai đoạn (10 năm) làm cơ sở xây dựng Chiến lược, quy hoạch khoáng sản.

Sau khi hoàn thành thống kê, kiểm kê tài nguyên, trữ lượng khoáng sản đến 2025, từ giai đoạn 2030 trở đi, thực hiện định kỳ nhiệm vụ thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản trên phạm vi cả nước (05 năm/01 lần) để cập nhật, đánh giá hiện trạng nguồn lực tài nguyên khoáng sản phục vụ công tác lập quy hoạch, chiến lược khoáng sản.

Nâng cao năng lực thực thi pháp luật của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản từ Trung ương đến địa phương, nhất là cơ quan thanh tra chuyên ngành khoáng sản; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản, quản lý chặt chẽ sản lượng đã khai thác; nghiên cứu đổi mới mô hình quản trị tài nguyên khoáng sản theo hướng công khai, minh bạch; thí điểm hình thức đấu thầu khai thác một số dự án khai thác khoáng sản quy mô lớn, có tính chiến lược.

Tài nguyên đa dạng sinh học: Sửa đổi, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về bảo tồn đa dạng sinh học. Điều tra, kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học phục vụ quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững.

Tài nguyên biển đảo: Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Hoàn lập các Quy hoạch không gian biển quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ.

Triển khai thực hiện Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó tập trung đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển; Phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển. Gắn kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo.

Tài nguyên khí tượng, thủy văn: Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung và xây mới các Văn bản Quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực KTTV trong c ng tác phòng, chống thiên tai; hoàn thiện và xây dựng mới hệ thống văn bản quản lý kỹ thuật KTTV;

Ứng dụng công nghệ 4.0 trong phát triển và tự động hóa hệ thống quan trắc, phát triển và hiện đại hóa hệ thống th ng tin liên lạc, cơ sở dữ liệu và chia sẻ thông tin KTTV; phát triển và hiện đại hóa công nghệ dự báo để nâng cao năng lực theo dõi, dự báo, phòng tránh thiên tai và đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội; ứng dụng thông tin KTTV để ứng phó với BĐKH;

Tổ chức hoạt động dịch vụ KTTV theo hướng thương mại hóa và xã hội hóa; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về KTTV, như việc tăng cường các ứng dụng công nghệ hiện đại về dự báo, đo đạc, chỉnh lý dữ liệu, tính toán KTTV; phối hợp với các đơn vị liên quan đánh giá tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, BĐKH và tác động của BĐKH; tích cực tham gia nghiên cứu những vấn đề toàn cầu về KTTV và BĐKH;

Tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước, huy động các nguồn vốn thông qua tài trợ, viện trợ và các hình thức khác, nguồn thu từ các hoạt động thương mại KTTV.

Cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội

Rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách tăng cường huy động nguồn lực đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước tham gia đầu tư phát triển cơ sở vật chất và hạ tầng về tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, đấu thầu, bảo đảm sự hài hoà lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng kết cấu hạ tầng. Thực hiện giải pháp công khai, minh bạch thông tin và xây dựng cơ chế giám sát để các tầng lớp nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của Bộ, ngành, địa phương.

Khẩn trương xây dựng và hoàn thành các nhiệm vụ của Ngành đã được phân công tại Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Hoàn thành việc xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên môi trường, tạo lập hệ sinh thái điện tử nhằm cung cấp, chia sẻ, sử dụng, cập nhật thông tin dữ liệu, khai thác các giá trị tăng của tài nguyên số về tài nguyên và môi trường làm hạ tầng cơ sở, nguồn lực cho phát triển nền kinh tế số, xã hội số của đất nước. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng phương pháp quản lý hiện đại trong tổ chức xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội.

Khẩn trương xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số.

Xây dựng và triển khai quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường đảm bảo đồng bộ, hiện đại và kết nối thông tin, chia sẽ dữ liệu giữa trung ương và địa phương.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách tạo khung pháp lý và thúc đẩy xây dựng hoàn thiện hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia phù hợp với chuẩn mực quốc tế đảm bảo phục vụ tìm kiếm, truy cập, chia sẻ, chuyển đổi, phân tích, tích hợp, tra cứu dữ liệu trên Cổng thông tin không gian địa lý Việt Nam và tích hợp dữ liệu khung.

Tăng cường quản lý đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư công, loại trừ ngay từ khâu thẩm định các dự án kém hiệu quả về kinh tế - xã hội; Rà soát tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, chấm dứt đầu tư các dự án kém hiệu quả, tập trung, ưu tiên đầu tư các công trình có tính cấp bách, trọng điểm, các công trình quan trắc giám sát về tài nguyên và môi trường, đặt biệt là tài nguyên và môi trường biển. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tư vấn, giám sát độc lập, trong đó có giám sát cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng công trình; kiểm soát chặt chẽ suất đầu tư, rút ngắn tiến độ thực hiện để đưa vào khai thác sử dụng và quản lý có hiệu quả.

Đối với nguồn tài lực

Đảm bảo bố trí không đưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường theo đúng Quyết định số 30/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa lĩnh vực môi trường theo Nghị định số 69/20085/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến nghị xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, dạy nghiề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường.

Khẩn trương hoạt thành việc lập, phê duyệt phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; tổ chức rà soát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cập nhật thông tin sắp xếp nhà, đất vào phần mềm do Bộ Tài chính xây dựng, vận hành.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan