Thứ 7, 20/08/2022 - 03:15
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giải pháp đối với vấn đề ô nhiễm môi trường sông Bắc Hưng Hải

Trả lời ý kiến đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường sông Bắc Hưng Hải,  Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) xin được báo cáo làm rõ thêm các nôi dung chính có liên quan.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà

Hệ thống Bắc Hưng Hải là hệ thống thủy nông nhân tạo có chiều dài chính 232 km và trên 2.000 km kênh nhánh, được xây dựng từ năm 1959 với mục đích chính là cung cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Căn cứ kết quả quan trắc, phân tích mẫu nước sông Bắc Hưng Hải trong các năm 2016, 2017, 2018 và 2019 cho thấy, nước hệ thống Bắc Hưng Hải đã bị ô nhiễm từ nhiều năm qua, thông số ô nhiễm chủ yếu là các chỉ tiêu hóa sinh (COD, BOD5, NH4 + , PO4 3-, NO2 - , Coliforms,...), hàm lượng chất ô nhiễm gia tăng nhất là vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 12) do hệ thống sông Bắc Hưng Hải đóng để trữ nước phục vụ cho công tác thủy nông là chính nên tình trạng nước bị ứ đọng, không có dòng chảy (thông số DO rất thấp, trung bình chỉ từ 1 – 3 mg/l). Mặt khác, sông Bắc Hưng Hải còn phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải sinh hoạt của các khu đô thị, khu dân cư tập trung; nước thải công nghiệp từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nước thải chăn nuôi, nước thải từ các làng nghề trên địa bàn, ngoài ra còn phải tiếp nhận nguồn nước bị ô nhiễm từ các sông trong khu vực chảy vào (sông Cầu Bây thuộc thành phố Hà Nội; các nhánh sông Bần Vũ Xá, sông Đình Dù và kênh Trần Thành Ngọ của tỉnh Hưng Yên; Kênh T2, sông Sặt và sông Cửu An của tỉnh Hải Dương;…); làm cho tình trạng ô nhiễm sông gia tăng thêm. Theo số liệu thống kê, nước thải sinh hoạt của các khu đô thị, khu dân cư tập trung xả vào sông Bắc Hưng hải chiếm khoảng 58,47%1 ; còn lại gồm: nước thải công nghiệp phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoảng 25,72%; chăn nuôi khoảng 12,02%; làng nghề khoảng 2,65% và y tế khoảng 1,14%.

Hầu hết các khu đô thị, khu dân cư hiện nay chưa đầu tư xây lắp hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi xả ra hệ thống Bắc Hưng Hải, ngoại trừ khu đô thị Ecopark (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) xây dựng 04 trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung với tổng công suất là 29.300 m3 /ngày.đêm, hiện đang vận hành 01 trạm với công suất 3.500 m3 /ngày.đêm. Đối với nước thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung bên ngoài KCN, thực tế cho thấy, vẫn còn những trường hợp cơ sở lén lút xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Đối với nước thải phát sinh từ cụm công nghiệp (CCN), làng nghề: tỉnh Hưng Yên có 09 CCN, 10 làng nghề xả thải với lưu lượng trên 4.209 m3 /ngày.đêm; tỉnh Bắc Ninh có 03 làng nghề với tổng lưu lượng trên 740 m 3 /ngày.đêm thải gián tiếp ra hệ thống Bắc Hưng Hải;… Các cụm công nghiệp, làng nghề hầu hết chưa đầu tư xây lắp hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi xả ra sông. Đối với các cơ sở chăn nuôi: hầu hết các cơ sở, trang trại chăn nuôi có quy mô hộ gia đình, như huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh có tới 21 trang trại nuôi lợn, đa phần nằm xem kẽ giữa các khu dân cư chưa đầu tư xây lắp các công trình BVMT, xử lý nước thải và mùi hôi phát sinh; nước thải chăn nuôi không được xử lý đáp ứng quy chuẩn cho phép, thải chung ra hệ thống thoát nước chung của khu dân cư, sau đó ra môi trường.

Trước ý kiến phản ánh của cử tri, đại biểu Quốc hội về tình trạng ô nhiễm nguồn nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải (còn gọi là sông Bắc Hưng Hải), trong những năm qua, Bộ TN&MT đã chỉ đạo, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, tập trung rà soát các nguồn thải, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở có hoạt động xả thải ra lưu vực.

Năm 2018, Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) đã phối phợp chặt chẽ với Sở TN&MT, Phòng Cảnh sát môi trường, Ban Quản lý các Khu công nghiệp các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nội tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với 34 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hoạt động xả thải với lưu lượng lớn hơn 200 m3 /ngày ra hệ thống Bắc Hưng Hải. Kết quả thanh tra cho thấy, có 19/34 cơ sở (chiếm tỷ lệ 55%) có hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Các địa phương đã tiến hành thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường đối với 778 cơ sở có hoạt động xả thải trực tiếp hoặc gián tiếp ra hệ thống Bắc Hưng Hải; đã phát hiện và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với 244/778 cơ sở được thanh tra, kiểm tra có vi phạm, tổng số tiền phạt hơn 6,1 tỷ đồng.

Các địa phương đã tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân cũng như cộng đồng doanh nghiệp về công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ chất lượng nước hệ thống Bắc Hưng Hải; hướng dẫn doanh nghiệp chú trọng đầu tư các công trình xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, đảm bảo các thông số môi trường trong nước thải sau xử lý phải đạt quy chuẩn kỹ thuật cho phép trước khi thải ra môi trường. Thành phố Hà Nội đã hoàn thành việc lắp đặt Trạm Quan trắc môi trường nước mặt tự động trên sông Cầu Bây (tại vị trí Trạm bơm Am thuộc thôn Ngọc Động, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm) thuộc hệ thống kênh thủy lợi Bắc Hưng Hải và truyền dữ liệu quan trắc liên tục, tự động về Sở TN&MT. Hàng năm, Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải thực hiện việc thay nước trong hệ thống kênh Bắc Hưng Hải bằng biện pháp đưa nước từ sông vào hệ thống để pha loãng nước, giảm thiểu nồng độ ô nhiễm. Điều chỉnh quy trình vận hành các công trình tiêu nước để giảm thiểu tác động của ô nhiễm nước, khuyến cáo các đơn vị khai thác công trình thủy lợi và người dân về trách nhiệm trong sử dụng, bảo vệ nguồn nước 3 theo quy định của Luật Thủy Lợi; thực hiện nạo vét, khơi thông dòng chảy, thu gom rác thải tồn đọng trên hệ thống Bắc Hưng Hải.

Ngày 21/8/2019, Bộ TN&MT đã có văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương về phối hợp xử lý ô nhiễm môi trường sông Bắc Hưng Hải.

Ngày 05/9/2019, Bộ trưởng Bộ TN&MT đã trực tiếp chủ trì cuộc họp với các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương và Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nội nhằm thống nhất triển khai các giải pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm nguồn nước hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.

Trên cơ sở đó, Bộ đã có Văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình ô nhiễm nguồn nước trên hệ thống Bắc Hưng Hải và các giải pháp giữa 04 tỉnh, thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên. Trong thời gian tới, Bộ TN&MT sẽ tiếp tục đôn đốc các địa phương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai các giải pháp đã thống nhất báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 88/BC-BTNMT ngày 16/9/2019, cụ thể là:

Đối với các tỉnh, thành phố trên hệ thống Bắc Hưng Hải

Thứ nhất, tập trung quyết liệt vào công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường đối với toàn bộ các KCN, CCN, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các khu xử lý rác thải, bãi chôn lấp, các nguồn thải lớn có xả thải ra hệ thống Bắc Hưng Hải và các sông nhánh (sông Cầu Bây thuộc thành phố Hà Nội; các nhánh sông Bần Vũ Xá, sông Đình Dù và kênh Trần Thành Ngọ của tỉnh Hưng Yên; kênh T1, T2, sông Sặt và sông Cửu An của tỉnh Hải Dương…); xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, kể cả biện pháp đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa;

Thứ hai, buộc tất cả các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ các bãi chôn lấp, khu xử lý rác thải có lưu lượng xả thải từ 100 m3 /ngày.đêm trở lên ra hệ thống Bắc Hưng Hải phải lắp đặt quan trắc tự động trong lộ trình 01 năm tính từ tháng 9/2019;

Thứ ba, tạm thời không cấp phép xả nước thải mới cho các dự án có loại hình, tính chất gây ô nhiễm môi trường có xả thải ra hệ thống Bắc Hưng Hải; không cho phép các dự án đầu tư chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống xử lý nước thải không đảm bảo yêu cầu về BVMT đi vào hoạt động; các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ có xả thải ra hệ thống Bắc Hưng Hải phải đảm bảo xử lý nước thải đạt cột A của QCVN tương ứng theo quy định;

Thứ tư, tạm thời dừng cấp phép đầu tư cho 16 loại hình2 dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường lớn, xả thải trực tiếp ra hệ thống Bắc Hưng Hải và các sông nhánh, cụ thể sông Cầu Bây thuộc thành phố Hà Nội; kênh Trần Thành Ngọ của tỉnh Hưng Yên; kênh T1, T2 và sông Sặt (sông Kim Sơn) của tỉnh Hải Dương(16 loại hình hoạt động theo đề án giám sát đặc biệt, gồm: 1. Khai thác, làm giàu khoáng sản độc hại; 2. Luyện kim; tinh chế, chế biến khoáng sản độc hại; phá dỡ tàu biển; 3. Sản xuất giấy, bột giấy, ván sợi (MDF, HDF); 4. Sản xuất hoá chất, phân bón hóa học (trừ loại hình phối trộn); thuốc bảo vệ thực vật hóa học; 5. Nhuộm (vải, sợi), giặt mài; 6. Thuộc da; 7. Lọc hoá dầu; 8. Nhiệt điện than, sản xuất cốc, khí hóa than, điện hạt nhân; 9. Xử lý, tái chế chất thải; 10. Xi mạ, làm sạch bề mặt kim loại bằng hóa chất; 11. Sản xuất pin, ắc quy; 12. Sản xuất clinker; 13. Chế biến mủ cao su; 14. Chế biến tinh bột sắn; 15. Chế biến mía đường; 16. Chế biến thuỷ sản, giết mổ gia súc, gia cầm.)

Thứ năm, rà soát lại toàn bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, trên cơ sở đó xem xét ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường, đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật của địa phương phải cao hơn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tính từ nay cho đến cuối năm 2019;

Thứ sáu, ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng thu gom, tách nước mưa, nước thải sinh hoạt và hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, quyết tâm đến năm 2021 hoàn thiện và đưa vào sử dụng, ưu tiên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (ra sông Sặt hay sông Kim Sơn) và các thị trấn Bần Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, thị trấn Như Quỳnh, huyện Yên Lâm của tỉnh Hưng Yên (ra sông Bần Vũ Xá, sông Đình Dù và kênh Trần Thành Ngọ). Đối với thành phố Hà Nội, cần sớm đưa vào vận hành 03 nhà máy xử lý nước thải (XLNT) trên địa bàn quận Long Biên (Nhà máy XLNT Phúc Đồng, An Lạc và Ngọc Thụy) nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm sông Cầu Bây;

Thứ bảy, tiếp tục tăng cường giám sát, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn ra hệ thống Bắc Hưng Hải và các sông nhánh (như sông Bần Vũ Xá, sông Đình Dù và kênh Trần Thành Ngọ của tỉnh Hưng Yên; sông Sặt và sông Cửu An trên địa bàn huyện Bình Giang và huyện Thanh Miện của tỉnh Hải Dương; sông Đông Côi, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình, sông Ngụ, sông Dâu, sông Bùi thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh) trước khi đổ vào hệ thống Bắc Hưng Hải;

Thứ tám, khẩn trương đầu tư lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nước mặt đối với thông số lưu lượng và một số thông số ô nhiễm chính tại các điểm xả chính trên hệ thống Bắc Hưng Hải; thường xuyên chia sẻ thông tin về kết quả quan trắc cho Sở TN&MT các tỉnh có hệ thống kênh Bắc Hưng Hải chảy qua và Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải. Đối với thành phố Hà Nội, cần vận hành có hiệu quả Trạm Quan trắc môi trường nước mặt tự động trên sông Cầu Bây (tại vị trí Trạm bơm Am thuộc thôn Ngọc Động, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm); lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nước mặt đối với thông số lưu lượng và một số thông số ô nhiễm tại cống Xuân Thụy;

Thứ chín, không quy hoạch các khu xử lý, bãi chôn lấp rác thải dọc hệ thống Bắc Hưng Hài và các sông nhánh; Quy hoạch các điểm tập kết chất thải rắn; tổ chức thu gom, xử lý toàn bộ chất thải rắn, chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý đúng quy định; chấm dứt ngay tình trạng thải chất thải rắn bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường;

Thứ mười, có cơ chế, chính sách huy động doanh nghiệp có năng lực tham gia vào đầu tư hệ thống xử lý nước thải, chât thải rắn đối với làng nghề, CCN theo hình thức BOT, BT; xem xét huy động phí xử lý từ người dân, nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ để khuyến khích các doanh nghiệp vào đầu tư.

Đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thứ nhất, đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét thành lập Ban quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn nước hệ thống Bắc Hưng Hải do Bộ TN&MT chủ trì, các thành viên bao gồm các Bộ: NN&PTNT, Công an, Công Thương, Xây dựng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương;

Thứ hai, chủ trì, phối hợp Bộ NN&PTNT và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố liên quan xây dựng Quy chế về quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn nước hệ thống 5 Bắc Hưng Hải, trong đó tập trung vào vấn đề quy hoạch tài nguyên nước, cấp phép xả nước thải, ban hành quy chuẩn kỹ thuật chung đối với hệ thống Bắc Hưng Hải, xây dựng quy chế và cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương, giữa các địa phương, đặc biệt trong việc điều tiết, vận hành, chế độ thông tin sử dụng nguồn nước hệ thống Bắc Hưng Hải;…

Thứ ba, chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan xây dựng và triển khai Đề án đầu tư hệ thống quan trắc nước tự động, liên tục tại địa phương trên hệ thống Bắc Hưng Hải bằng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; - Tổ chức hướng dẫn và thực hiện điều tra, đánh giá sức chịu tải của sông theo Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT về quy định đánh giá khả năng tiếp nhận và đánh giá sức chịu tải của sông hồ;

Thứ tư, tổ chức điều tra, đánh giá, phân loại và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn thải trên hệ thống Bắc Hưng Hải; triển khai đồng bộ, có hiệu quả Chỉ thị số 25/CTTTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một sô nhiệm vụ giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường;

Thứ năm, tiếp tục tăng cường công tác thanh tra liên ngành việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với toàn bộ các KCN, CCN, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các khu xử lý rác thải, bãi chôn lấp, các nguồn thải lớn có xả thải ra hệ thống Bắc Hưng Hải và các sông nhánh.

Đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thứ nhất, đánh giá toàn diện hiện trạng, chức năng, hiệu quả sử dụng hệ thống Bắc Hưng Hải trong điều kiện hiện tại; đề xuất xây dựng dự án cải tạo, nâng cấp toàn hệ thống Bắc Hưng Hải để đảm bảo ngoài chức năng trữ nước, tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp còn đảm bảo chức năng tiếp nhận và thoát nước thải (nước thải sản xuất, nước thải nông nghiệp, nước thải sinh hoạt…);

Thứ hai, khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải theo hướng cập nhật năng lực vận hành các công trình thủy lợi đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu (đặc biệt là vận hành cống Xuân Quan), tránh ứ đọng nước, không lưu thông đặc biệt vào mùa khô;

Thứ ba, triển khai nạo vét, chỉnh trang, nâng cấp sửa chữa hệ thống đê, cống, trạm bơm và các công trình thủy lợi khác trên hệ thống Bắc Hưng Hải; việc điều tiết nước và vận hành các trạm bơm phải có thông báo và phối hợp chặt chẽ với các tỉnh; ngăn vùng ô nhiễm, không làm ảnh hưởng môi trường mang tính liên tỉnh của sông;

Thứ tư, kiểm soát nước thải, chất thải trong sản xuất nông nghiệp để có giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước trong các kênh, mương tưới tiêu thủy lợi thuộc hệ thống sông Bắc Hưng Hải; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải;

Thứ năm, xây dựng và triển khai dự án đầu tư trạm bơm Xuân Quan thuộc địa phận Hà Nội để điều tiết nước hệ thống Bắc Hưng Hải nhằm tạo ra dòng chảy môi trường, giúp tự làm sạch nguồn nước;

Thứ sáu, xây dựng cơ sở dữ liệu các nguồn thải, số lượng và chất lượng nước tưới tiêu trên hệ thống Bắc Hưng Hải và gửi kết quả cho các tỉnh để đảm bảo khai thác sử dụng nguồn nước chung đồng thời cảnh báo, giảm thiểu ảnh hưởng ô nhiễm;

Thứ bảy, có cơ chế phối hợp, thống nhất với các Bộ và các tỉnh, thành phố trên hệ thống Bắc Hưng Hải trong công tác thẩm định, cấp phép xả nước thải vào hệ thống Bắc Hưng Hải, đặc biệt chú trọng công tác hậu kiểm; xác định rõ phạm vi, chức năng quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường hệ thống Bắc Hưng Hải.


Tác giả: Vụ Pháp chế
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan