Thứ 2, 15/08/2022 - 14:05
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bảo vệ môi trường các lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sông Tô Lịch

Trả lời ý kiến đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sông Tô Lịch,  Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) xin được báo cáo làm rõ thêm các nôi dung chính có liên quan.

Thực trạng và nguyên nhân ô nhiễm sông Nhuệ - Đáy và sông Tô Lịch

 Lưu vực sông Nhuệ - Đáy (sau đây viết tắt là Lưu vực sông) nằm ở hữu ngạn sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên 7.388 km2 (riêng lưu vực sông Đáy là 6.965 km2 ), nằm từ 200 đến 210 20’ vĩ độ Bắc, từ 1050 đến 1050 30’ kinh độ Đông, bao gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, thủ đô Hà Nội và Hòa Bình. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước tại 42 điểm tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy do Tổng cục Môi trường thực hiện từ năm 2016 đến nay cho thấy:

Sông Nhuệ, sông nội thành Hà Nội và sông Châu Giang bị ô nhiễm các thông số DO, COD và BOD5, N-NH4+, TSS, hầu như các điểm quan trắc đều có giá trị rất kém so với quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT loại B1. Trong nhiều năm, các thông số này vẫn không được cải thiện mà có xu hướng xấu dần. Nguyên nhân chính là do chịu ảnh hưởng từ nguồn thải sinh hoạt chưa được xử lý của thành phố Hà Nội và một số các làng nghề dọc nhánh sông Nhuệ. Đối với các thông số kim loại nặng, trừ Fe, các thông số kim loại khác (Pb, Cd, Zn, Cu) hầu như đều đạt theo quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT loại B1.

Sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Đào: Đoạn từ điểm quan trắc cầu Mai Lĩnh và Ba Thá, chất lượng nước không được tốt, bị ô nhiễm các thông số DO, COD và N-NH4 + . Đoạn sông Đáy từ điểm Tế Tiêu xuống Trung Hiếu Hạ bị ô nhiễm thông số N-NH4 + . Sau khi hợp lưu với sông Hoàng Long tại Gián Khẩu, chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy có xu hướng cải thiện và hầu như các thông số đều đạt quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT loại B1 (ngoại trừ thông tố TSS vì khi hợp lưu với sông Hoàng Long lưu lượng, dòng chảy lớn và còn nhiều tàu thuyền đi lại). Nhánh sông Đào và sông Hoàng Long từ năm 2016-2018 có chất lượng nước tương đối tốt và ổn định.

Tình trạng ô nhiễm môi trường trên một số đoạn của lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sông Tô Lịch xuất phát từ những nguyên nhân chính sau:

Lưu vực này đang chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, hạ tầng phát triển nhưng không đồng bộ. Nước thải sinh hoạt chưa được xử lý thải ra lưu vực chiếm tỷ lệ rất lớn so với tất cả các nguồn thải khác gộp lại (lên tới trên 70%), cụ thể: thành phố Hà Nội chiếm 87% tổng lượng nước thải; các tỉnh còn lại đều chiếm trên 70%. Bên cạnh đó, trong khi hầu hết các KCN đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung và cơ bản tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường thì các CCN đã và đang xây dựng trạm xử lý tập trung nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 30%), ngoại trừ thành phố Hà Nội (khoảng trên 60%). Hiện nay, nước thải làng nghề cơ bản không được thu gom và xử lý.

Không được sông Hồng bổ cập nước thường xuyên (đặc biệt vào mùa khô mực nước sông Hồng thấp hơn cống Liên Mạc) và sau khi tiếp nhận nước thải của sông Tô Lịch nên khi sông Nhuệ hợp dòng vào sông Đáy làm nguồn nước sông Đáy càng bị ô nhiễm hơn: Từ năm 2003 đến nay, mực nước sông Hồng thường xuyên duy trì ở mức thấp hơn so với yêu cầu của thiết kế (thậm chí có thời điểm mực nước sông Hồng thấp hơn mực nước sông Nhuệ); vào mùa khô, chỉ khi có các đợt xả nước từ các hồ như Thác Bà, Tuyên Quang, Hòa Bình mới có thể duy trì mực nước trên 2,2 m tại Hà Nội để đáp ứng yêu cầu mực nước tối thiểu. Với mực nước đó, hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ không thể lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc bằng hình thức tự chảy theo nhu cầu.

Sông Tô Lịch bắt nguồn và được cung cấp nước thông qua cống xả từ Hồ Tây. Tuy nhiên, lưu lượng nước được cấp từ Hồ Tây bị hạn chế và phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ xả nước của hồ. Hiện nay, lượng nước trong sông chủ yếu từ nước thải đô thị (chưa qua xử lý), một phần nước mưa. Vì vậy, có thể nói hiện nay sông Tô Lịch đang mang nhiệm vụ như là một hệ thống thoát nước cho thành phố mà không có chức năng của một dòng sông.

Ý thức và nhận thức của một số cộng đồng dân cư, đặc biệt là dân cư sống ven sông còn thấp, vẫn tồn tại thói quen xả rác trực tiếp xuống lòng sông gây cản trở dòng chảy, ô nhiễm môi trường.

Các giải pháp đã triển khai

Trước thực trạng trên, thời gian qua Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tích cực phối hợp với các Bộ, ngành và UBND các tỉnh trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy triển khai nhiều hoạt động bảo vệ môi trường của lưu vực, cụ thể là:

Đẩy mạnh triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 20202 và Quyết định số 1435/QĐ-TTg ngày 18/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án; cùng với Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh trên lưu vực làm Chủ tịch luân phiên đã tập trung vào công tác giám sát các nguồn thải lớn trọng điểm, giải quyết các vấn đề liên tỉnh, đầu tư các dự án công trình xử lý ô nhiễm. 2 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008.

Chú trọng đầu tư, xây dựng và vận hành hệ thống quan trắc, giám sát môi trường và cơ sở thông tin dữ liệu về chất lượng môi trường nước và các nguồn thải ra lưu vực. Đến nay, đã được xây dựng 5 trạm quan trắc online, trong đó có 1 trạm online tại sông Tô Lịch do TP. Hà Nội đầu tư, 04 trạm tại Hà Nam và Nam Định.

Triển khai gần 70 dự án, công trình hạ tầng, mô hình quản lý, bảo vệ môi trường trong lưu vực như: dự án trồng rừng đầu nguồn sông Nhuệ - sông Đáy tại tỉnh Hoà Bình; mô hình xử lý môi trường làng nghề của tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và thành phố Hà Nội; đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế cho bệnh viện tại các tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy; đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải bằng công nghệ tiên tiến để xử lý rác thải của thành phố Hà Nội; các dự án nạo vét, cải tạo hệ thống thủy lợi, công trình tiêu nước tại các trạm bơm của thành phố Hà Nội... Đặc biệt, dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải Yên Xá có công suất 270.000 m3 /ngày, giá trị đầu tư gần 19.000 tỷ đồng với hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt hiện đại.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn thải ra lưu vực. Trong năm 2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Cảnh sát môi trường, Ban Quản lý các Khu công nghiệp các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Nam, Hòa Bình, Nam Định và Ninh Bình tiến hành thanh tra theo kế hoạch việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với 62 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu, cụm công nghiệp; thanh tra đột xuất đối với 05 cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội; xử phạt vi phạm hành chính đối với 38 cơ sở với tổng số tiền phạt trên 8,97 tỷ đồng; đồng thời yêu cầu các cơ sở vi phạm phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Tổ chức triển khai thống kê, điều tra nguồn nước thải xả thải trực tiếp ra lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, trên cơ sở đó xác định trach nhiệm của từng địa phương, chủ nguồn thải.

Ngày 29 tháng 7 năm 2019, Bộ đã có văn bản số gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực đề nghị phối hợp xử lý ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy, trong đó:

Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có biện pháp chặt chẽ kiểm soát nước thải, chất thải trong sản xuất nông nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước trong các kênh, mương tưới tiêu thủy lợi trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy; Tăng cường, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nội đẩy mạnh công tác thẩm định, cấp phép xả nước thải vào các công trình thủy lợi thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy đặc biệt chú trọng công tác hậu kiểm, nhằm phát huy hiệu quả công tác phòng ngừa ô nhiễm. Nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy trình kỹ thuật về quản lý khai thác và bảo vệ cống Liên Mạc ban hành năm 1968 và Quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi sông Nhuệ (được ban hành kèm theo Quyết định số 105/2002/QĐ-BNN) theo hướng cập nhật năng lực vận hành các công trình 3 thủy lợi đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu (đặc biệt là vận hành cống Liên Mạc phù hợp theo lịch xả nước của quy trình vận hành liên hồ chứa trên sông Hồng). Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số: 937/QĐ-TTg ngày 01/7/2009 phê duyệt Quy hoạch tiêu nước hệ thống sông Nhuệ; Quyết định số 1821/QĐ-TTg ngày 07/10/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch phòng, chống lũ và đê điều hệ thống sông Đáy, ưu tiên nội dung liên quan đến Trạm bơm cống Liên Mạc công suất 170 m3 /s vào sông Nhuệ và đưa nước chủ động từ sông Hồng vào sông Đáy với công suất tối đa vào mùa kiệt là 170 m3 /s. Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để xác định rõ phạm vi, chức năng quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ nguồn nước, BVMT đối với các lưu vực sông nhằm giải quyết được sự chồng chéo trong quản lý, bảo vệ nguồn nước, BVMT giữa ngành tài nguyên môi trường và ngành nông nghiệp như hiện nay.

Đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo các Sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố đẩy nhanh tiến độ các dự án cải thiện nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy, các dự án xử lý nước thải (Dự án xây dựng cụm công trình đầu mối Liên Mạc, Từ Liêm, Hà Nội; Dự án nâng cấp trục chính sông Nhuệ kết hợp với làm đường giao thông cải thiện môi trường gắn với chỉnh trang sông Nhuệ; Dự án nạo vét, cải tạo lòng dẫn sông Đáy thành phố Hà Nội; Dự án tiếp nước, cải tạo khôi phục sông Tích; Dự án cụm công trình tiếp nước và các dự án xây dựng các nhà máy thu gom, xử lý nước thải) theo các quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chỉ đạo việc vận hành các nhà máy xử lý nước thải, các công trình điều tiết nguồn nước hiện hữu nhằm đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm nước sông Nhuệ, sông Đáy; Tiếp tục thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường sông Tô Lịch, chất lượng các hồ trên địa bàn, đặc biệt là các hồ nội đô; Tiếp tục thực hiện Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 725/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ đạo việc lập và ban hành danh mục nguồn nước nội tỉnh, trong đó xác định rõ các nguồn nước nội tỉnh trên lưu vực sông Nhuệ-Đáy; việc xác định, cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước;

Quy hoạch các điểm tập kết chất thải rắn; tổ chức thu gom, xử lý toàn bộ chất thải rắn, chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý đúng quy định; chấm dứt và xử lý nghiêm tình trạng thải chất thải rắn bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả nước thải và chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy trước khi chảy vào địa bàn các tỉnh phía hạ lưu; tăng cường tổ chức thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về BVMT tại các khu đô thị, khu 4 dân cư tập trung (có chủ đầu tư hạ tầng), các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, trong đó tập trung vào các cơ sở có lượng xả thải lớn (trên 200 m3 /ngày.đêm), các cơ sở xả thải trực tiếp ra lưu vực sông Nhuệ - Đáy; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đình chỉ hoạt động, cưỡng chế đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật. Đầu tư hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tự động trên hệ thống sông Nhuệ - Đáy; xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quan trắc chất lượng nước mặt, nước thải, hoạt động xả nước thải của các cơ sở xả nước thải và cơ chế quản lý, sử dụng phần mềm;

Phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong công tác thẩm định, cấp phép xả nước thải vào các công trình thủy lợi và công tác hậu kiểm nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa ô nhiễm. 5 Ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong làng nghề di dời hoạt động vào các khu, cụm công nghiệp.

Đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh: Hà Nam, Hòa Bình, Nam Định và Ninh Bình đẩy nhanh tiến độ đầu tư, xây dựng đưa vào vận hành các công trình xử lý nước thải, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tập trung cho các khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn, đảm bảo nước thải phát sinh phải được xử lý đáp ứng yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật cho phép trước khi thải ra môi trường. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải trên địa bàn, đặc biệt là những nguồn xả thải lớn (trên 200 m3 /ngày.đêm), xả thải trực tiếp ra lưu vực sông; Quy hoạch các điểm tập kết chất thải rắn; tổ chức thu gom, xử lý toàn bộ chất thải rắn, chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý đúng quy định; chấm dứt và xử lý nghiêm tình trạng thải chất thải rắn bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường; Tăng cường tổ chức thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về BVMT tại các khu đô thị, khu dân cư tập trung (có chủ đầu tư hạ tầng); các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; các khu, cụm công nghiệp, làng nghề có hoạt động xả thải vào lưu vực sông Nhuệ - Đáy; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đình chỉ hoạt động, cưỡng chế đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật; Phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong công tác thẩm định, cấp phép xả nước thải vào các công trình thủy lợi và công tác hậu kiểm nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa ô nhiễm; Đầu tư hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tự động trên hệ thống sông Đáy; xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quan trắc chất lượng nước mặt, nước thải, hoạt động xả nước thải của các cơ sở xả nước thải và cơ chế quản lý, sử dụng phần mềm. Chỉ đạo việc lập và ban hành danh mục nguồn nước nội tỉnh, trong đó xác định rõ các nguồn nước nội tỉnh trên lưu vực sông Nhuệ-Đáy; việc xác định, cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước.

Đoạn sông Tô lịch gần đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội được thí điểm xử lý ô nhiễm bằng công nghệ Nano Bioreactor

Các giải pháp sẽ triển khai trong thời gian tới

Để bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy cần có sự vào cuộc đồng bộ của nhiều bộ, ngành trong đôn đốc, chỉ đạo, hoàn thiện các thể chế, chính sách, thanh tra, kiểm tra, điều phối; đặc biệt là vai trò của địa phương nơi quản lý các nguồn thải và trách nhiệm của các chủ nguồn thải trên lưu vực. Và để tạo được sự chuyển biến rõ nét cần có một lộ trình thời gian phù hợp để triển khai các dự án thu gom, các dự án xử lý nước thải. Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành và địa phương, tham mưu Thủ tướng Chính phủ cơ chế mới trong tổ chức, điều phối các hoạt động bảo vệ môi trường của lưu vực, trong đó sẽ xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành, địa phương có nguồn thải chính.

Bộ Tài nguyên và môi trường: tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các địa phương có nguồn thải triển khai việc thu gom xử lý các nguồn thải trên địa bàn đảm bảo 6 quy chuẩn, tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường; chủ trì, phối hợp với các địa phương trên lưu vực tiến hành quan trắc, đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường và xử lý nghiêm theo quy định.

Bộ Xây dựng: chỉ đạo hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện quy định về hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tại các đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu dân cư nông thôn tập trung; triền khai thực hiện các giải pháp xử lý nước thải phi tập trung.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Có biện pháp chặt chẽ kiểm soát nước thải, chất thải trong sản xuất nông nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước trong các kênh, mương tưới tiêu thủy lợi trên lưu vực. Thực hiện việc bổ cập nước thông qua hệ thống thủy lợi đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu. Kiểm soát chặt chẽ việc thẩm định, cấp phép xả nước thải vào các công trình thủy lợi.

Các Bộ, ngành: Tăng cường tập huấn, phổ biến kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý môi trường tại địa phương, đặc biệt đối với công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường.... Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, cơ chế phối hợp giữa Trung ương và địa phương, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường.

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Uy ban nhân dân các tỉnh còn lại trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy: Đẩy nhanh tiến độ đầu tư, xây dựng đưa vào vận hành các công trình xử lý nước thải đô thị, các khu cụm công nghiệp và làng nghề trên địa bàn, đảm bảo nước thải phát sinh phải được xử lý đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, QCVN trước khi thải ra môi trường. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các nguồn thải vào lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy và kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đặc biệt các hành vi xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép.


Tác giả: Vụ Pháp chế
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan