Thứ 7, 25/06/2022 - 22:04
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam

Trên toàn lãnh thổ Việt Nam tổng cộng có khoảng 64 tầng chứa nước bao gồm: 9 tầng chứa nước lỗ hổng, 37 tầng chứa nước khe nứt, 05 tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng và 13 tầng chứa nước khe nứt karst; khoảng 89 các thành tạo địa chất, phức hệ magma xâm nhập rất nghèo nước hoặc không chứa nước.

Các tầng nước dưới đất

Đây là tầng chứa nước phân bố chủ yếu rộng khắp ở hai đồng bằng lớn là đồng bằng Bắc Bộ (thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình) và đồng bằng Nam Bộ (thuộc lưu vực sông Đồng Nai, lưu vực sông Cửu Long). Ngoài ra còn phân bố chủ yếu tại các đồng bằng ven biển, đồng bằng trên núi, dọc các thung lũng sông, suối lớn thuộc các lưu vực sông trên phạm vi toàn quốc. Đây là tầng chứa nước được khai thác chủ yếu phục vụ cho các nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, do đặc điểm các tầng chứa nước này có diện phân bố rộng, mức độ chứa nước phong phú, thường từ trung bình đến giàu nước, có mực nước nằm nông, ở địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho việc khai thác.

Khu vực trung tâm đồng bằng sông Hồng (lưu vực sông Hồng –Thái Bình), các tầng chứa nước lỗ hổng qh, qp thường có bề dày lớn từ vài chục đến gần trăm mét, mức độ chứa nước thường giàu nước. Trong đó tầng chứa nước qp và một phần tầng qh hiện đang là đối tượng khai thác nước chính cấp nước cho các đô thị lớn như TP Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, …với lưu lượng khai thác quy mô công nghiệp, tập trung với mỗi bãi giếng từ vài nghìn đến hơn chục nghìn m3/ngày.

Khu vực đồng bằng Nam Bộ (gồm lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long), các tầng chứa nước lỗ hổng có diện phân bố diện tích toàn vùng, là đối tượng khai thác nước chính, khai thác chủ yếu, cấp nước bằng các công trình lớn hoặc nhỏ lẻ, phục vụ dân sinh, tập trung ở các thành phố, các cụm dân cư trên khắp vùng. Khu vực này các tầng chứa nước lỗ hổng phía trên bề mặt (qh, qp3, qp2-3) thường là những tầng chứa nước có chiều dày nhỏ, mức độ chứa nước chủ yếu là nghèo nước, dễ bị nhiễm bẩn, nhiễm mặn nên ít được khai thác. Trong khi đó các tầng chứa nước lỗ hổng nằm sâu bên dưới (qp1, n22, n21, n13) có chiều dày từ vài chục đến hàng trăm mét, giàu nước, chất lượng nước tốt, nước nhạt chiếm phần lớn diện tích, có thể khai thác quy mô công nghiệp, tập trung. Hiện nay các tầng chứa nước này đang được tập trung khai thác với quy mô lớn, cấp nước cho các đô thị hầu khắp các tỉnh đồng bằng Nam Bộ với quy mô từ vài nghìn đến hàng chục nghìn m3/ngày/bãi giếng. Tình trạng khai thác quá mức dẫn đến một số nơi đã xảy ra hiện tượng suy giảm mực nước mạnh, nguy cơ cạn kiệt, xâm nhập mặn tầng chứa nước, điển hình như khu vực thành phố Sóc Trăng, Long An, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, …

Ngoài ra, các tầng chứa nước lỗ hổng qh, qp tại một số vùng đồng bằng ven biển, đồng bằng trên núi, dọc các thung lũng sông, suối lớn thuộc các lưu vực sông hiện đang được tập trung khai thác phục vụ các nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên các khu vực này, tầng chứa nước lỗ hổng thường có bề dày nhỏ từ vài mét đến đôi ba chục mét, mức độ chứa nước thường từ nghèo đến trung bình, đôi chỗ giàu nước, nên được khai thác quy mô vừa và nhỏ, từ vài chục đến vài trăm m3/ngày cho các mục đích sử dụng. Các tầng chứa nước này thường bị ảnh hưởng ô nhiễm bởi các nguồn bẩn từ bề mặt, khu vực ven biển thường dễ bị ảnh hưởng xâm nhập mặn do khai thác gây ra hoặc do thủy triều.

 Đối với các tầng chứa nước khe nứt: phân bố trên diện rộng chủ yếu ở khu vực miền núi phía bắc (lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, nhóm lưu vực sông Quảng Ninh), khu vực trung du, miền núi các lưu vực sông thuộc Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ (lưu vực sông Mã, Cả, Hương, Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, Cái Nha Trang, Cái Ninh Hòa, nhóm lưu vực sông Quảng Bình, Quảng Trị). Các tầng chứa nước này thường có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình, lưu lượng khai thác thông thường từ vài m3/ngày đến vài chục m3/ngày, đôi chỗ giàu nước đến vài trăm m3/ngày/LK. Chất lượng nước thường tốt, nước nhạt, đáp ứng tốt cho các nhu cầu khai thác, sử dụng. Tuy chỉ có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình nhưng có diện phân bố rộng đang được khai thác sử dụng cho cấp nước sinh hoạt ở nhiều địa phương bằng các hình thức khác nhau như giếng đào, mạch lộ, giếng khoan quy mô nhỏ lẻ. Trong số 37 tầng chứa nước khe nứt, một số tầng chứa nước có mức độ chứa nước trung bình đang được khai thác nhiều phải kể đến như: d1, t2, t3, o3-s1, ε-o, chủ yếu thuộc các lưu vực sông Hồng –Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, Mã, Cả.       

Đối với các tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng: phân bố rộng rãi chủ yếu ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các tầng chứa nước này thường có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu, có nơi rất giàu nước. Các lỗ khoan cho lưu lượng lớn đến rất lớn. Chất lượng nước tốt, có thể đáp ứng mọi nhu cầu khai thác, sử dụng. Đây là các tầng chứa nước quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng, nó có khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp nước tập trung quy mô vừa đến lớn. Lưu lượng mỗi lỗ khoan có thể đạt từ vài trăm đến vài nghìn m3/ngày. Các tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng giàu nước đang được tập trung khai thác gồm: βqp, β(n2-qp), n2 và n1-2, chủ yếu ở một số lưu vực sông như Sê San, Srêpốk, Ba, Kone – Hà Thanh, Vu Gia –Thu Bồn.

Các tầng chứa nước khe nứt – karst: phân bố thành diện rộng ở khu vực miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, trong đó tập trung chủ yếu ở khu vực trung du, miền núi thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, Cả, Mã, nhóm lưu vực sông Quảng Ninh. Đây là các tầng chứa nước có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu nước, nhưng không đồng nhất. Nước nhạt đến siêu nhạt, chất lượng nước tốt, có khả năng khai thác cung cấp nước quy mô lớn, tập trung cho các nhu cầu khai thác, sử dụng. Trong 13 TCN khe nứt – karst, có khoảng 6 TCN có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu bao gồm t, c-p, d, d2, o-s, ε-o, hiện đang được khai thác, sử dụng nhiều ở một số địa phương thuộc miền núi phía bắc thuộc lưu vực sông Hồng –Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, nhóm các lưu vực sông Quảng Ninh. Lưu lượng khai thác các giếng từ vài chục đến vài trăm m3/ngày, thậm chí đến hơn nghìn m3/ngày.

Trữ lượng nước dưới đất

Kết quả tổng hợp, đánh giá lại trữ lượng nước dưới đất thuộc dự án “Biên hội - Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2018) cho thấy, trữ lượng tiềm năng của nước dưới đất khá lớn với tổng tài nguyên nước dưới đất dự báo khoảng 91,5 tỷ m3/năm (nước nhạt khoảng 69 tỷ m3/năm, nước mặn khoảng 22,4 tỷ m3/năm), trong đó tổng trữ lượng nước nhạt có thể khai thác khoảng 22,3 tỷ m3/năm

* Xét theo lưu vực sông, trữ lượng nước nhạt có thể khai thác lớn nhất là lưu vực sông Hồng -Thái Bình với khoảng 6,5 tỷ m3/năm, tiếp đến là lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long, mỗi lưu vực khoảng 3 tỷ m3/năm. Các lưu vực sông này cũng là nơi tập trung khai thác nước dưới đất nhiều nhất, cả về quy mô công trình cũng như lưu lượng khai thác. Ngoài ra các lưu vực sông có trữ lượng có thể khai thác tương đối lớn, bao gồm lưu vực sông Mã, Cả với mỗi lưu vực khoảng 1,5 tỷ m3/năm. Các lưu vực sông có trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất nhỏ hoặc rất ít như lưu vực sông Cái Ninh Hòa (24 triệu m3/năm), lưu vực sông Cái Nha Trang (78 triệu m3/năm); các lưu vực sông Sê San, Trà Khúc, Srepok, nhóm các lưu vực sông Quảng Ninh, Quảng Trị, Bằng Giang - Kỳ Cùng khoảng từ hai đến ba trăm triệu m3/năm; tổng các vùng phụ cận khoảng gần 1 tỷ m3/năm.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan