Thứ 7, 25/06/2022 - 20:40
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hiện trạng tài nguyên nước Việt Nam

Đảm bảo an ninh nguồn nước là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia. Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến nguồn nước. Vì vậy việc khai thác, sử dụng hiệu quả, bảo vệ bền vững tài nguyên nước đã được ưu tiên hàng đầu.

Tài nguyên nước phân bố không đều theo cả không gian và thời gian đã dẫn đến xuất hiện các vấn đề khan hiếm và thiếu nước nước trong mùa khô. Theo không gian, khoảng 60% nước mặt Việt Nam thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, hơn 20% thuộc sông Hồng và Đồng Nai và lượng nước tập trung chủ yếu vào mùa mưa. Theo thời gian, mùa khô thường kéo dài từ 6 đến 9 tháng, lượng dòng chảy tự nhiên trong mùa khô chỉ chiếm 20-30% tổng lượng dòng chảy cả năm. Tổng lượng nước hàng năm chiếm 70-80% tập trung vào 3-4 tháng mùa mưa.

Khai thác sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý và thiếu bền vững dẫn đến tình trạng suy giảm tài nguyên nước trong khi hiệu quả sử dụng nước còn thấp. Việc khai thác các hồ chứa thủy lợi cho tưới nông nghiệp, thủy điện cho năng lượng đang gây ra nhiều vấn đề về chia sẻ nước trên lưu vực, cấp nước và duy trì dòng chảy môi trường hạ du. Việc khai thác nước dưới đất thiếu quy hoạch, khai thác quá mức là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng sụt lún nền đất cục bộ ở một số đô thị như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số khu vực vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Nhu cầu sử dụng nước gia tăng trong khi nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm, suy thoái, khan hiếm, cạn kiệt. Nguồn nước mặt ở nhiều khu vực đô thị, khu công nghiệp, làng nghề đều đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ, nhiều nơi ô nhiễm nghiêm trọng, như lưu vực sông Nhuệ Đáy, sông Cầu và sông Đồng Nai - Sài Gòn. Nhiễm bẩn, ô nhiễm nguồn nước dưới đất từ ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm đất: nhiễm mặn, cạn kiệt nguồn nước dưới đất do khai thác có xu hướng gia tăng nhất là tại các khu vực đô thị, khu dân cư, làng nghề, ven biển của đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, ven biển miền Trung.

Tài nguyên nước mưa

Lượng mưa trung bình năm thời kỳ 1980-2020 trên toàn lãnh thổ nước ta khoảng 1.990mm, tương ứng khoảng 640 tỷ m3/năm. Lượng mưa bình quân năm phân bố không đều giữa các lưu vực sông. Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có lượng mưa trung bình lưu vực lớn nhất với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm là 2.700mm, hai  lưu vực sông có lượng mưa TBNN từ 2.600 – 2.650mm gồm: lưu vực sông Hương (2.600mm), Trà Khúc (2642mm), tiếp đến lưu vực sông Sông Kôn - Hà Thanh, Đồng Nai, sông Cái Nha Trang, Nhóm các lưu vực sông Quảng Bình, Quảng Trị có lượng mưa TBNN dao động từ 2.100 - 2.400mm. Lượng mưa TBNN năm thấp nhất ở các lưu vực sông thuộc Nhóm sông Đông Nam Bộ (sông Lũy, sông Ray) với lượng mưa trung bình dao động từ 1280 - 1310mm.

Lượng mưa phân bố không đều trong năm và được phân làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô về số ngày mưa và tổng lượng mưa, thời gian xuất hiện. Các lưu vực sông thuộc khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thời gian mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX, X và có thể kéo dài đến tháng XI đối với lưu vực sông Cả. Các lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ mùa mưa xuất hiện muộn và ngắn hơn so với các khu vực khác thường bắt đầu từ tháng VIII và kết thúc tháng XII. Các lưu vực sông vùng Tây Nguyên có mùa mưa bắt đầu từ tháng IV, V và kết thúc tháng X, XI. Vùng đồng bằng sông Cửu Long, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V và kéo dài cho đến tháng XI.

Tổng lượng mưa bình quân trong mùa mưa và mùa khô phân bố không đồng đều trên các lưu vực sông. Theo đó, trong mùa mưa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn có tổng lượng lớn nhất, tiếp đó là các lưu vực sông Hương, Trà Khúc; trong mùa khô lưu vực sông Trà Khúc có tổng lượng lớn nhất, tiếp đó đến các lưu vực sông Hương. Nhóm sông Đông Nam Bộ có lượng mưa mùa khô thấp nhất như lưu vực sông Cái Phan Rang, sông Ray, sông Lũy.

Lượng mưa phân bố không đều trong năm và được phân làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô về số ngày mưa và tổng lượng mưa, thời gian xuất hiện. Các lưu vực sông thuộc khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thời gian mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX, X và có thể kéo dài đến tháng XI đối với lưu vực sông Cả. Các lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ mùa mưa xuất hiện muộn và ngắn hơn so với các khu vực khác thường bắt đầu từ tháng VIII và kết thúc tháng XII. Các lưu vực sông vùng Tây Nguyên có mùa mưa bắt đầu từ tháng IV, V và kết thúc tháng X, XI. Vùng đồng bằng sông Cửu Long, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V và kéo dài cho đến tháng XI.

Tổng lượng mưa bình quân trong mùa mưa và mùa khô phân bố không đồng đều trên các lưu vực sông. Theo đó, trong mùa mưa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn có tổng lượng lớn nhất, tiếp đó là các lưu vực sông Hương, Trà Khúc; trong mùa khô lưu vực sông Trà Khúc có tổng lượng lớn nhất, tiếp đó đến các lưu vực sông Hương. Nhóm sông Đông Nam Bộ có lượng mưa mùa khô thấp nhất như lưu vực sông Cái Phan Rang, sông Ray, sông Lũy.

Tài nguyên nước mặt

Việt Nam có 106 lưu vực sông với khoảng 3450 sông, suối tương đối lớn (chiều dài từ 10 km trở lên). Trong đó có 10 hệ thống sông lớn (diện tích lưu vực lớn hơn 10.000 km2), bao gồm: Hồng - Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn, Ba, Sê San, Srêpốk, Đồng Nai và sông Cửu Long. Về hướng chảy, ở Bắc Bộ và Nam Bộ phần lớn các sông, suối chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam rồi đổ ra biển Đông. Trong 10 hệ thống sông lớn, có 07 lưu vực sông có mối quan hệ quốc tế, trong đó 04 lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Mã, Cả, Cửu Long có dòng chảy đến từ quốc tế, 03 lưu vực sông chảy sang nước ngoài đó là lưu vực sông Bằng Giang – Kỳ Cùng chảy sang Trung Quốc, và lưu vực sông Sê San, Srêpốk chảy sang Campuchia.

Ngoài 10 hệ thống sông lớn nêu trên, có 166 sông có diện tích từ 500 km2 đến dưới 10.000 km2, một số sông như: sông Hương có diện tích lưu vực khoảng 3.066km2, sông Trà Khúc diện tích lưu vực 3.337km2, sông Kôn – Hà Thanh diện tích lưu vực 3.809km2, sông Cái Nha Trang với diện tích 1.732km2. Còn lại là các sông độc lập, nội tỉnh chảy trực tiếp ra biển, thuộc nhóm các sông Quảng Ninh, nhóm các sông Quảng Bình, nhóm các sông Quảng Trị, và nhóm các lưu vực sông Đông Nam Bộ.

Về nguồn nước, Việt Nam có 697 sông, suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên tỉnh, 173 sông, suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên quốc gia và 38 hồ, đầm phá liên tỉnh. Việt Nam nằm cuối nguồn của 5 hệ thống sông lớn, gồm: lớn nhất là sông Mê Công với 95% diện tích thuộc nước ngoài (Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia); sông Hồng (169 nghìn km2) với 47% diện tích lưu vực thuộc Trung Quốc; sông Đồng Nai với 17% thuộc Campuchia; sông Mã  gần 38% thuộc Lào và sông Cả với  34% thuộc Lào.

Tổng lượng tài nguyên nước mặt trên toàn quốc khoảng 840 tỷ m3, trong đó, 97% tổng lượng tập trung chủ yếu ở các lưu vực sông: Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã, Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba, Sê San, Srêpốk, Đồng Nai, Cửu Long, Cái Ninh Hòa, Cái Nha Trang, và nhóm các lưu vực sông Quảng Ninh, nhóm các lưu vực sông sông Quảng Bình, nhóm các lưu vực sông Quảng Trị, và nhóm các lưu vực sông Đông Nam Bộ. Tỷ lệ nhỏ khác phân bố ở các lưu vực sông nhỏ độc lập ven biển.

Tài nguyên nước N mặt phân bố không đều theo không gian giữa các lưu vực sông, các vùng. lưu vực sông Cửu Long có tỷ lệ lớn nhất, chiếm 57% tổng lượng nước mặt trên toàn quốc, tương ứng tổng lượng dòng chảy khoảng 474 tỷ m3, tiếp đó là lưu vực sông Hồng – Thái Bình với tỷ lệ 18%, tương ứng với tổng lượng dòng chảy khoảng 148 tỷ m3, lưu vực sông Đồng Nai là 5% tương ứng khoảng 39,9 tỷ m3, lưu vực sông Cả với 2,8%, tương ứng với khoảng 23,8 tỷ m3, và lưu vực sông Mã là 2,3% tương tứng với khoảng 19,7 tỷ m3. Lưu vực sông Cái Ninh Hòa có tỷ lệ dòng chảy nhỏ nhất trên toàn quốc, chiếm tỷ lệ 0,09% tương ứng với tổng lượng dòng chảy khoảng 0,77 tỷ m3.

Xét theo phân vùng kinh tế tài nguyên nước phân bố chủ yếu tập trung chủ yếu vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 56% tổng lượng nước mặt trên toàn quốc, tiếp đó là vùng Trung du và miền núi phía bắc chiếm 18%, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 15% và các vùng chiếm tỉ lệ nhỏ như Đồng bằng sông Hồng (2%), Tây Nguyên (7%), Đông Nam Bộ (3%).

Tài nguyên nước dưới đất

Trên toàn lãnh thổ Việt Nam tổng cộng có khoảng 64 tầng chứa nước bao gồm: 9 tầng chứa nước lỗ hổng, 37 tầng chứa nước khe nứt, 05 tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng và 13 tầng chứa nước khe nứt karst; khoảng 89 các thành tạo địa chất, phức hệ magma xâm nhập rất nghèo nước hoặc không chứa nước.

Đối với các tầng chứa nước lỗ hổng: Đây là tầng chứa nước phân bố chủ yếu rộng khắp ở hai đồng bằng lớn là đồng bằng Bắc Bộ (thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình) và đồng bằng Nam Bộ (thuộc lưu vực sông Đồng Nai, lưu vực sông Cửu Long). Ngoài ra còn phân bố chủ yếu tại các đồng bằng ven biển, đồng bằng trên núi, dọc các thung lũng sông, suối lớn thuộc các lưu vực sông trên phạm vi toàn quốc. Đây là tầng chứa nước được khai thác chủ yếu phục vụ cho các nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, do đặc điểm các tầng chứa nước này có diện phân bố rộng, mức độ chứa nước phong phú, thường từ trung bình đến giàu nước, có mực nước nằm nông, ở địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho việc khai thác.

Khu vực trung tâm đồng bằng sông Hồng (lưu vực sông Hồng –Thái Bình), các tầng chứa nước lỗ hổng qh, qp thường có bề dày lớn từ vài chục đến gần trăm mét, mức độ chứa nước thường giàu nước. Trong đó tầng chứa nước qp và một phần tầng qh hiện đang là đối tượng khai thác nước chính cấp nước cho các đô thị lớn như TP Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, …với lưu lượng khai thác quy mô công nghiệp, tập trung với mỗi bãi giếng từ vài nghìn đến hơn chục nghìn m3/ngày.

Khu vực đồng bằng Nam Bộ (gồm lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long), các tầng chứa nước lỗ hổng có diện phân bố diện tích toàn vùng, là đối tượng khai thác nước chính, khai thác chủ yếu, cấp nước bằng các công trình lớn hoặc nhỏ lẻ, phục vụ dân sinh, tập trung ở các thành phố, các cụm dân cư trên khắp vùng. Khu vực này các tầng chứa nước lỗ hổng phía trên bề mặt (qh, qp3, qp2-3) thường là những tầng chứa nước có chiều dày nhỏ, mức độ chứa nước chủ yếu là nghèo nước, dễ bị nhiễm bẩn, nhiễm mặn nên ít được khai thác. Trong khi đó các tầng chứa nước lỗ hổng nằm sâu bên dưới (qp1, n22, n21, n13) có chiều dày từ vài chục đến hàng trăm mét, giàu nước, chất lượng nước tốt, nước nhạt chiếm phần lớn diện tích, có thể khai thác quy mô công nghiệp, tập trung. Hiện nay các tầng chứa nước này đang được tập trung khai thác với quy mô lớn, cấp nước cho các đô thị hầu khắp các tỉnh đồng bằng Nam Bộ với quy mô từ vài nghìn đến hàng chục nghìn m3/ngày/bãi giếng. Tình trạng khai thác quá mức dẫn đến một số nơi đã xảy ra hiện tượng suy giảm mực nước mạnh, nguy cơ cạn kiệt, xâm nhập mặn tầng chứa nước, điển hình như khu vực thành phố Sóc Trăng, Long An, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, …

Ngoài ra, các tầng chứa nước lỗ hổng qh, qp tại một số vùng đồng bằng ven biển, đồng bằng trên núi, dọc các thung lũng sông, suối lớn thuộc các lưu vực sông hiện đang được tập trung khai thác phục vụ các nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên các khu vực này, tầng chứa nước lỗ hổng thường có bề dày nhỏ từ vài mét đến đôi ba chục mét, mức độ chứa nước thường từ nghèo đến trung bình, đôi chỗ giàu nước, nên được khai thác quy mô vừa và nhỏ, từ vài chục đến vài trăm m3/ngày cho các mục đích sử dụng. Các tầng chứa nước này thường bị ảnh hưởng ô nhiễm bởi các nguồn bẩn từ bề mặt, khu vực ven biển thường dễ bị ảnh hưởng xâm nhập mặn do khai thác gây ra hoặc do thủy triều.

Đối với các tầng chứa nước khe nứt: phân bố trên diện rộng chủ yếu ở khu vực miền núi phía bắc (lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, nhóm lưu vực sông Quảng Ninh), khu vực trung du, miền núi các lưu vực sông thuộc Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ (lưu vực sông Mã, Cả, Hương, Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, Cái Nha Trang, Cái Ninh Hòa, nhóm lưu vực sông Quảng Bình, Quảng Trị). Các tầng chứa nước này thường có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình, lưu lượng khai thác thông thường từ vài m3/ngày đến vài chục m3/ngày, đôi chỗ giàu nước đến vài trăm m3/ngày/LK. Chất lượng nước thường tốt, nước nhạt, đáp ứng tốt cho các nhu cầu khai thác, sử dụng. Tuy chỉ có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình nhưng có diện phân bố rộng đang được khai thác sử dụng cho cấp nước sinh hoạt ở nhiều địa phương bằng các hình thức khác nhau như giếng đào, mạch lộ, giếng khoan quy mô nhỏ lẻ. Trong số 37 tầng chứa nước khe nứt, một số tầng chứa nước có mức độ chứa nước trung bình đang được khai thác nhiều phải kể đến như: d1, t2, t3, o3-s1, ε-o, chủ yếu thuộc các lưu vực sông Hồng –Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, Mã, Cả.       

Đối với các tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng: phân bố rộng rãi chủ yếu ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các tầng chứa nước này thường có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu, có nơi rất giàu nước. Các lỗ khoan cho lưu lượng lớn đến rất lớn. Chất lượng nước tốt, có thể đáp ứng mọi nhu cầu khai thác, sử dụng. Đây là các tầng chứa nước quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của vùng, nó có khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp nước tập trung quy mô vừa đến lớn. Lưu lượng mỗi lỗ khoan có thể đạt từ vài trăm đến vài nghìn m3/ngày. Các tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng giàu nước đang được tập trung khai thác gồm: βqp, β(n2-qp), n2 và n1-2, chủ yếu ở một số lưu vực sông như Sê San, Srêpốk, Ba, Kone – Hà Thanh, Vu Gia –Thu Bồn.

Các tầng chứa nước khe nứt – karst: phân bố thành diện rộng ở khu vực miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, trong đó tập trung chủ yếu ở khu vực trung du, miền núi thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, Cả, Mã, nhóm lưu vực sông Quảng Ninh. Đây là các tầng chứa nước có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu nước, nhưng không đồng nhất. Nước nhạt đến siêu nhạt, chất lượng nước tốt, có khả năng khai thác cung cấp nước quy mô lớn, tập trung cho các nhu cầu khai thác, sử dụng. Trong 13 TCN khe nứt – karst, có khoảng 6 TCN có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu bao gồm t, c-p, d, d2, o-s, ε-o, hiện đang được khai thác, sử dụng nhiều ở một số địa phương thuộc miền núi phía bắc thuộc lưu vực sông Hồng –Thái Bình, Bằng Giang – Kỳ Cùng, nhóm các lưu vực sông Quảng Ninh. Lưu lượng khai thác các giếng từ vài chục đến vài trăm m3/ngày, thậm chí đến hơn nghìn m3/ngày.

Kết quả tổng hợp, đánh giá lại trữ lượng nước dưới đất thuộc dự án “Biên hội - Thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2018) cho thấy, trữ lượng tiềm năng của nước dưới đất khá lớn với tổng tài nguyên nước dưới đất dự báo khoảng 91,5 tỷ m3/năm (nước nhạt khoảng 69 tỷ m3/năm, nước mặn khoảng 22,4 tỷ m3/năm), trong đó tổng trữ lượng nước nhạt có thể khai thác khoảng 22,3 tỷ m3/năm

Xét theo lưu vực sông, trữ lượng nước nhạt có thể khai thác lớn nhất là lưu vực sông Hồng -Thái Bình với khoảng 6,5 tỷ m3/năm, tiếp đến là lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long, mỗi lưu vực khoảng 3 tỷ m3/năm. Các lưu vực sông này cũng là nơi tập trung khai thác nước dưới đất nhiều nhất, cả về quy mô công trình cũng như lưu lượng khai thác. Ngoài ra các lưu vực sông có trữ lượng có thể khai thác tương đối lớn, bao gồm lưu vực sông Mã, Cả với mỗi lưu vực khoảng 1,5 tỷ m3/năm. Các lưu vực sông có trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất nhỏ hoặc rất ít như lưu vực sông Cái Ninh Hòa (24 triệu m3/năm), lưu vực sông Cái Nha Trang (78 triệu m3/năm); các lưu vực sông Sê San, Trà Khúc, Srepok, nhóm các lưu vực sông Quảng Ninh, Quảng Trị, Bằng Giang - Kỳ Cùng khoảng từ hai đến ba trăm triệu m3/năm; tổng các vùng phụ cận khoảng gần 1 tỷ m3/năm.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan