Thứ 6, 30/09/2022 - 08:42
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nội dung dự kiến sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

Đối với các lĩnh vực ngành tài nguyên và môi trường thì lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản quy định tại Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản cũng được Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu sửa đổi, bổ sung. Quy định sửa đổi, bổ sung Nghị định được sắp xếp tại Điều 2 dự thảo Nghị định.

Điều 2 dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung 32/73 Điều (các Điều: 4; bổ sung Điều 5a, 5b; 8, 13; bãi bỏ Điều 20, 21; 22, 25, 26, 29, 31, 36, 37, 38, 40, 41, 42, 44, 46, 47, 48, 49, 51, 54, bổ sung Điều 54a, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69), cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 4 để phù hợp với khoản 3 Điều 25 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định về thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành; sửa đổi, bổ sung về hình thức xử phạt bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 4: về cơ bản giữ nguyên nội dung các biện pháp khắc phục hậu quả đã được quy định tại Nghị định số 36/2020/NĐ-CP, sửa đổi chỉ để sắp xếp lại theo đúng thứ tự các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính; bỏ các nội dung trùng lặp.

Bổ sung Điều 5a, 5b để xác định rõ hành vi đã kết thúc, hành vi đang thực hiện trong lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản theo nhiệm vụ được giao quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Bổ sung điểm c khoản 2 Điều 8 đối với hành vi “Lắp đặt thiết bị quan trắc, giám sát không đúng theo quy định” để phù hợp với nội dung quy định tại Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 04/02/2020 của Chính phủ về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng bờ, bãi sông, Thông tư 47/2017/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên; bãi bỏ cụm từ “xả nước thải vào nguồn nước” tại điểm a khoản 6; bãi bỏ khoản 7 để thống nhất với quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. - Sửa đổi một số biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 13, 22, 26 cho phù hợp với Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020).

 Bãi bỏ Điều 20 (Hành vi xả nước thải vào nguồn nước không có giấy phép theo quy định của pháp luật); bãi bỏ Điều 21 (Vi phạm quy định của giấy phép xả nước thải vào nguồn nước) để thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

 Sửa đổi Điều 25 để phù hợp với biện pháp khắc phục hậu quả của Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và phù hợp với Nghị định số 23/2020/NĐ-CP về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông. - Sửa đổi Điều 29 để phù hợp với biện pháp khắc phục hậu quả của Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi năm 2020); phù hợp Nghị định số 41/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền tài nguyên nước; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; đã bỏ đoạn “xả nước thải vào nguồn nước” tại điểm a khoản 6 Điều 29 của Nghị định số 36/2020/NĐ-CP; bỏ điểm d khoản 5 và điểm c khoản 6 Điều 29 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP để không chồng chéo với Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn.

Sửa đổi, bổ sung Điều 31, 36 để làm rõ hành vi vi phạm chậm nộp và không nộp nhằm tránh khó khăn, gây hiểu nhầm khi áp dụng.

 Sửa đổi, bổ sung Điều 37, 38, 40, 41, 42, 44, 46, 47 để phù hợp với các quy định về quản lý nhà nước; biện pháp khắc phục hậu quả, hình thức xử phạt bổ sung theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. - Sửa đổi, bổ sung Điều 48, 49, 51, 54 để làm rõ mức phạt phù hợp với thực tiễn và yêu cầu quản lý tại các văn bản quy phạm pháp luật; hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

Bổ sung Điều 54a vi phạm quy định về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. Hiện có nhiều dự án xây dựng công trình được triển khai trên khu vực đất mà bên dưới là khoáng sản thuộc khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. Quy định này nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, tránh thất thoát tài nguyên khoáng sản tại khu vực nêu trên để phù hợp với quy định tại Nghị định số 51/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia đã được ban hành dẫn đến cần bổ sung quy định liên quan đến vi phạm quy định về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.

 Sửa đổi, bổ sung Điều 63, 64, 66, 67, 68 về thẩm quyền xử phạt, mức phạt, giá trị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của các chức danh có thẩm quyền xử phạt: Thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển để phù hợp với thẩm quyền của các đối tượng này đã được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Bãi bỏ điểm c khoản 1 Điều 65 (Thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành công thương); rà soát sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 64 (thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã) để phù hợp với Điều 28, 38, 46 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung 8 tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính) và theo ý kiến của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội.

Sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 69 (Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính) do thay đổi dẫn điều khoản tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

 Bỏ cụm từ “xả nước thải vào nguồn nước” tại khoản 4, khoản 5 Điều 70 của Nghị định 36/2020/NĐ-CP”.

Như vậy, đối với các điều khoản sửa đổi, bổ sung Nghị định số 36/2020/NĐ-CP dự kiến quy định tại Điều 2 dự thảo Nghị định sẽ là cơ sở pháp lý để thực thi đối với các tổ chức, cá nhân phù hợp với các văn bản pháp lý liên quan, đảm bảo thống nhất trong hệ thống pháp luật.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan