Thứ 5, 30/06/2022 - 16:55
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trường hợp nào được coi là "có vi phạm pháp luật đất đai"

Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị có hướng dẫn xác định các trường hợp được coi là "có vi phạm pháp luật về đất đai”

 

Theo cử tri, Điều 20 Nghị định số 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai; Tại Điều 22 Nghị định số 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014;

Tại Điều 23 Nghị định số 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đã được giao không đúng thẩm quyền.

          Xác định trường hợp “có vi phạm pháp luật đất đai” với trường hợp “không vi phạm pháp luật đất đai” ảnh hưởng rất lớn đối với xác định hạn mức (hạn mức giao đất hoặc hạn mức công nhận đất ở); xác định nghĩa vụ tài chính theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.  Do đó, cử tri đề nghị hướng dẫn xác định “vi phạm pháp luật đất đai” như thế nào, cụ thể thời điểm xác định vi phạm pháp luật đất đai, cơ quan có trách nhiệm xác định vi phạm (Uỷ ban nhân dân cấp xã hay Uỷ ban nhân dân cấp huyện); căn cứ để xác định vi phạm pháp luật đất đai (các loại tài liệu, sổ sách, bản đồ nào) vì qua các thời kỳ, các hành vi vi phạm pháp luật đất đai khác nhau.

Vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Việc xác định người sử dụng đất có hay không có hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần căn cứ vào thời điểm xảy ra hành vi, quy định pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi và như các giấy tờ, sổ sách về quản lý đất đai do cơ quan Nhà nước lập trước thời điểm xảy ra hành vi để xác định cụ thể.

Về việc xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai như lấn, chiếm đất đai, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất trái thẩm quyền: Pháp luật đất đai qua các thời kỳ đều có quy định nghiêm cấm các hành vi này như:

Tại Chỉ thị 213-TTg ngày 24/9/1974 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định “Đối với những ruộng đất đã bị lấn chiếm không hợp pháp, những ruộng tạm mượn, tạm cấp làm cơ quan, kho tàng, nhà ở khi sơ tán trong chiến tranh phá hoại, nay trả lại cho sản xuất nông nghiệp” hoặc “đối với những đất của các nông trường, các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý, sử dụng đúng chế độ và chính sách của Nhà nước”;

Quyết định số 201-CP ngày 01/7/1980 của Chính phủ có quy định trách nhiệm của người sử dụng đất là phải sử dụng đất theo đúng mục đích sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền xác định (như tại Khoản 2 mục III của Quyết định này có nêu “2. Người sử dụng đất có các trách nhiệm chung sau đây: a. Phải theo đúng mục đích, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền xác định…”

Đến Thông tư số 55/ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn cách giải quyết các trường hợp sử dụng ruộng đất không hợp pháp, không hợp lý tiếp tục nhắc lại quy định tại Chỉ thị số 213-TTg ngày 24/9/1974 và có quy định hoặc “Tất cả ruộng đất hợp tác xã bị các thành phần tư do lấn chiếm để làm nhà hoặc sản xuất riêng đều phải kiên quyết thu hồi về cho Hợp tác xã sử dụng. - Trường hợp đã làm nhà rồi cũng phải dỡ đi, nếu có nhiều khó khăn mà không đỡ được thì trừ vào đất 5% của người lấn chiếm” hoặc "Đối với ruộng đất của các nông trường, lâm trường, trạm trại bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý và sử dụng theo đúng chế độ, chính sách Nhà nước”. Thông tư số 55/ĐKTK đã nêu cụ thể thẩm quyền cấp đất từ ngày 14/4/1959 đến giai đoạn thực hiện Quyết định số 201-CP ngày 01/7/1980.

Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003 đều có quy định thẩm quyền giao đất và quy định việc nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai như tại khoản 1 Điều 48 của Luật Đất đai năm 1987 có quy định “Người sử dụng đất còn có những nghĩa vụ sau đây: 1- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các điều kiện khác đã được quy định khi giao đất”, tại Điều 6 của Luật Đất đai năm 1993 quy định “Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, huỷ hoại đất”, tại khoản 5 Điều 26 của Luật Đất đai năm 1993 quy định “Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng trong những trường hợp sau đây: …5- Đất sử dụng không đúng mục đích được giao”.

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin thông tin để cử tri được biết. Đề nghị cử tri gửi ý kiến cụ thể đối với từng trường hợp tới cơ quan quản lý đất đai ở địa phương, trên cơ sở hồ sơ, giấy tờ, sổ sách lưu trữ tại địa phương để xác định cụ thể hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất.

Căn cứ vào các hành vi vi phạm của người sử dụng đất (nếu có), quá trình sử dụng đất và các quy định đã nêu để xem xét thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; đối với trường hợp người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và việc sử dụng đất do lấn, chiếm đất đai thì xem xét giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Căn cứ vào các hành vi vi phạm của người sử dụng đất (nếu có), quá trình sử dụng đất và các quy định của pháp luật để xem xét thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phù hợp với quy định tại Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 20, Điều 22 và Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan