Thứ 7, 25/06/2022 - 20:58
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quy định trường hợp góp vốn bằng quyền sử dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

Kiến nghị của địa phương liên quan đến quy định của pháp luật hiện hành chưa phân biệt cụ thể, rõ ràng trường hợp góp vốn bằng quyền sử dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đất đai. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tháo gỡ, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

 

Theo đó, trong Luật Doanh nghiệp có khái niệm tài sản góp vốn là giá trị quyền sử dụng đất (Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014), còn Luật Đất đai quy định trường hợp góp vốn bằng quyền sử dụng đất (K10 Điều 3 Luật Đất đai), cũng như chưa phân biệt rõ 02 hình thức góp vốn để hợp tác kinh doanh và góp vốn để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp. Do vậy, hộ gia đình, cá nhân lo ngại khi chuyển quyền sử dụng đất thành cổ phiếu, nếu doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì có thể sẽ bị mất đất và giá trị của vốn góp bằng quyền sử dụng đất không thay đổi theo sự phát triển của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp thì chưa có khung pháp lý để sử dụng vốn góp bằng giá trị quyền sử dụng đất để có thể thế chấp khi vay vốn ngân hàng, phục vụ sản xuất - kinh doanh và dẫn đến khó khăn trong quản lý, sử dụng tài sản doanh nghiệp trong thời gian góp vốn.

Ngoài ra, liên quan đến hạn chế việc chuyển đổi quyền sử dụng đất: Theo đó, hộ gia đình, cá nhân chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng 01 xã, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác và đất phải được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ởvà tài sản khác gắn liền với đất... (Điều 179, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013); Quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định chưa có cơ chế bảo vệ thỏa đáng vì Luật Đất đai năm 2013 cấm nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức quy định (tại Điều 12) và khi thu hồi đất thì Nhà nước sẽ không bồi thường về đất đối với diện tích đất ngoài hạn mức (bồi thường tài sản đầu tư trên đất); Đối tượng được phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cũng bị hạn chế, cụ thể là các tổ chức kinh tế không được phép nhận chuyển nhượng đối với đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Điều 191 Luật Đất đai năm 2013). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức kinh tế có điều kiện về tài chính, kỹ thuật, mong muốn được đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp; Luật Đất đai năm 2013 quy định theo hướng kiểm soát chặt các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội (Điều 62 Luật Đất đai năm 2013). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù đã có cơ chế doanh nghiệp tự thỏa thuận tiền đền bù để thực hiện dự án đầu tư nhưng trong nhiều trường hợp khó đạt được sự đồng thuận của tất cả các hộ gia đình, cá nhân là người sử dụng đất. Điều này dẫn đến tình trạng không thể tích tụ, tập trung được đất đai để mở rộng quy mô sản xuất, trong khi điều kiện để doanh nghiệp được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án quy mô lớn trong nông nghiệp còn khó khăn, phức tạp (Ví dụ: Khoản 3 Điều 55, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 133, khoản 1 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp mà chỉ thuê đất từ chính quyền địa phương).

Liên quan đến nhóm vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường sau khi nghiên cứu và ghi nhận để rà soát sửa đổi trong tiến trình sửa đổi tổng thể Luật Đất đai.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan