Thứ 5, 30/06/2022 - 17:12
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kiến nghị về thu tiền sử dụng đất và thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

Theo kiến nghị của địa phương gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan đến Tạ i khoản 3, điều 108, Luật đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất” và th ẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cấp huyện (tại Điều 59) cần được quy định sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.

 

1. Tại khoản 3, điều 108, Luật đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”.Theo quy định trên thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đấtvà giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể được xác định theo giá thị trường tại thời điểm xác định giá theo các phương pháp xác định giá quy định tại Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT. Tuy nhiên, các thủ tục để đưa dự án vào kế hoạch định giá đất và thuê đơn vị tư vấn xác định giá thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án mất nhiều thời gian nên việc xác định giá thu tiền sử dụng đất cho các dự án có những trường hợp bị chậm so với thời điểm Quyết định giao đất của dự án. Dẫn đến sự hiểu nhầm của các doanh nghiệp xác định tiền sử dụng đất chậm, các doanh nghiệp đề nghị xác định giá đất cụ thể tại thời điểm giao đất trong khi tại thời điểm xác định giá đất cụ thể thì giá thị trường cao hơn giá đất tại thời điểm giao đất.

Do đó, địa phương đề xuất bổ sung thêm khoản 3, điều 108, Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định về thu tiền sử dụng đất: "Đối với các trường hợp chậm tính tiền sử dụng đất thì giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể tại thời điểm xác định giá đất".

2. Liên quan đến  thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cấp huyện (tại Điều 59) là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Theo đó đang quy định “hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ từ 0,5ha trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định” là chưa chặt chẽ và cấp huyện xảy ra hiện tượng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cho thuê đất thiếu sự kiểm soát đặc biệt là đất rừng sản xuất và đất quỹ 2, ảnh hưởng đến công tác bồi thường GPMB khi nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, địa phương kiến nghị bổ sung nội dung: “hộ gia đình,cá nhân thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích sản xuất, thương mại, dịch vụ, trang trại chăn nuôi phải phù hợp với QHXD được duyệt và có văn bản chấp thuận của UBNDcấp tỉnh trước khi quyết định”.

Đối với 02 vấn đề nêu trên, sau khi nghiên cứu, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Thứ nhất, đối với nội dung liên quan đến khoản 3, điều 108, Luật đất đai năm 2013, các nội dung quy định tại Tại khoản 3 Điều 108, khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai thì giá đất để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là giá đất cụ thể; thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất. Việc kiến nghị đối với các trường hợp chậm tính tiền sử dụng đất thì giá đất để tính thu tiền sử dụng đất là giá đất cụ thể tại thời điểm xác định giá đất là không có cơ sở pháp luật, dễ dẫn đến tùy tiện trong tổ chức thực hiện và gây thất thoát ngân sách nhà nước.

Thứ hai, đối với nội dung liên quan đến Điều 59 Luật Đất đai 2013, Việc kiểm soát quá chặt như đề xuất sẽ tạo ra ách tắc về thủ tục hành chính không cần thiết. Việc chuyển mục đích trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do đó đề nghị địa phương quản lý chặt chẽ trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Trên đây là ý kiến đề xuất của địa phương và ý kiến trả lời của Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan đến khoản 3, điều 108, Luật đất đai năm 2013 và Điều 59 Luật Đất đai 2013.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan