Thứ 5, 13/05/2021 - 09:56
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia thành viên của NĐT Cartagena từ năm 2004. Điều 27 của NĐT đã quy định về nghĩa vụ pháp lý và bồi thường thiệt hại do vận chuyển xuyên biên giới các sinh vật BĐG gây ra.

Gia nhập Nghị định thư bổ sung Nagoya-Kuala Lumpur về Nghĩa vụ pháp lý và bồi thường trong khuôn khổ Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học

Việt Nam là quốc gia thành viên của NĐT Cartagena từ năm 2004. Điều 27 của NĐT đã quy định về nghĩa vụ pháp lý và bồi thường thiệt hại do vận chuyển xuyên biên giới các sinh vật BĐG gây ra. Tháng 10 năm 2010, tại cuộc họp lần thứ 5 các bên tham gia NĐT Cartagena, các Bên đã thông qua Nghị định thư bổ sung Nagoya-Kuala Lumpur về Nghĩa vụ pháp lý và bồi thường trong khuôn khổ NĐT Cartagena. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên và với trách nhiệm là quốc gia thành viên của Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học, từ năm 2012, Bộ TN&MT đã nghiên cứu, đánh giá các nội dung, điều khoản quy định của Nghị định thư bổ sung và xây dựng Tờ trình Chính phủ về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung. Ngày 12 tháng 02 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung. Việc gia nhập Nghị định thư bổ sung tạo cho Việt Nam một cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc hơn trong việc yêu cầu các tổ chức, cá nhân khi vận chuyển xuyên biên giới sinh vật biến đổi gen qua lãnh thổ Việt Nam nếu để xảy ra thiệt hại phải có trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, thông qua đó sẽ hạn chế các rủi ro đến môi trường, ĐDSH và sức khỏe con người.

Theo thông báo của Ban thư ký Công ước ĐDSH, tính đến nay đã có 45 quốc gia và vùng lãnh thổ gia nhập Nghị định thư bổ sung và Nghị định thư bổ sung đã chính thức có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 3 năm 2018.

Quản lý phòng thí nghiệm nghiên cứu về sinh vật biến đổi gen

Trong thời gian qua, Bộ KH&CN đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan (Bộ NN&PTNT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) trong việc xét giao và giám sát thực hiện các nhiệm vụ KH&CN trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ về sinh vật BĐG và các sản phẩm của sinh vật BĐG theo đúng quy định. Việc nghiên cứu về sinh vật BĐG tại nước ta trong những năm qua được thực hiện tại các phòng thí nghiệm thuộc: Viện Di truyền nông nghiệp, Viện CNSH, Viện Nghiên cứu ngô, Trung tâm CNSH thành phố Hồ Chí Minh, Viện CNSH (Đại học Huế)... với các nghiên cứu về đu đủ kháng bệnh virus, ngô chịu hạn... Tuy nhiên các nghiên cứu này đến nay mới chủ yếu thực hiện trong phòng thí nghiệm.

Sau khi ban hành Thông tư số 20/2012/TT-BKHCN ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ KH&CN hướng dẫn chi tiết điều kiện, trình tự và thủ tục công nhận Phòng thí nghiệm nghiên cứu về sinh vật BĐG, Bộ KH&CN đã ban hành trên 10 Quyết định công nhận phòng thí nghiệm ATSH cấp 2 cho các phòng thí nghiệm nghiên cứu về sinh vật BĐG. Cùng với đó, Bộ KH&CN đã tổ chức xây dựng nội dung, biên soạn tài liệu và tổ chức tập huấn ATSH cho nhân viên phòng thí nghiệm nghiên cứu về sinh vật BĐG, nhằm nâng cao ý thức của cán bộ quản lý và nhân viên phòng thí nghiệm để giảm thiểu các rủi ro trong trong quá trình thực hiện công việc liên quan đến sinh vật BĐG và sản phẩm của chúng. Đến nay, Bộ KH&CN chưa nhận được bất kỳ thông tin nào về vi phạm ATSH trong nghiên cứu và phát triển công nghệ về sinh vật BĐG. Tuy nhiên, nguồn lực cho quản lý ATSH sinh vật BĐG ở lĩnh vực này còn hạn chế, công tác kiểm tra, giám sát còn chưa được quan tâm đúng mức. Hiện tại, số lượng phòng thí nghiệm được công nhận được phép nghiên cứu về sinh vật BĐG còn ít (trên 10 phòng) so với số lượng các phòng thí nghiệm CNSH đang hoạt động trên toàn quốc.

Khảo nghiệm sinh vật biến đổi gen và công nhận kết quả khảo nghiệm hạn chế và khảo nghiệm diện rộng

Ngày 12 tháng 01 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT đến năm 2020", trong đó đặt ra mục tiêu đưa một số giống cây trồng BĐG vào sản xuất trong giai đoạn 2011-2015.

Ngày 17 tháng 11 năm 2009, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 72/2009/TT-BNNPTNT danh mục loài cây trồng BĐG được phép khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với ĐDSH và môi trường cho mục đích làm giống cây trồng ở Việt Nam bao gồm: ngô, đậu tương và bông vải.

Từ năm 2010 đến nay, Bộ NN&PTNT đã cấp phép cho các Công ty được phép khảo nghiệm hạn chế và diện rộng đối với các giống ngô BĐG mang các gen kháng sâu hại bộ cánh vảy và chống chịu thuốc trừ cỏ nhằm đánh giá ảnh hưởng của chúng đối với môi trường và ĐDSH tại Việt Nam (Thời gian để thực hiện khảo nghiệm hạn chế và diện rộng trong khoảng từ 2-3 năm).

Đến nay, các Công ty đã hoàn thành khảo nghiệm 07 sự kiện ngô BĐG, trong đó, Bộ NN&PTNT đã công nhận kết quả khảo nghiệm đối với 05 sự kiện ngô BĐG, bao gồm: MON89034, NK603, Bt11, GA21, TC1507, còn 02 sự kiện ngô BĐG vẫn chưa được công nhận kết quả là MIR162 (công nhận kết quả khảo nghiệm hạn chế và diện rộng) và MON810 (công nhận kết quả khảo nghiệm hạn chế và cấp phép cho khảo nghiệm diện rộng).

Cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học và công nhận giống cây trồng biến đổi gen

Sau khi Bộ NN&PTNT công nhận kết quả khảo nghiệm hạn chế và diện rộng đối với các sự kiện ngô BĐG, các công ty sở hữu giống ngô BĐG đã lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận ATSH gửi tới Bộ TN&MT. Bộ TN&MT đã tiếp nhận 05 hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận ATSH. Sau khi tiếp nhận các hồ sơ nêu trên, Bộ TN&MT đã triển khai các hoạt động thẩm định theo đúng trình tự quy định tại Thông tư số 08/2013/TT-BTNMT: (i) Thành lập Tổ chuyên gia và Hội đồng ATSH; (ii) Đăng tải báo cáo đánh giá rủi ro của giống ngô BĐG đăng ký lên Cổng thông tin điện tử về ATSH để lấy ý kiến công chúng; (iii) Tổ chức các phiên họp thẩm định hồ sơ của Tổ chuyên gia và Hội đồng ATSH. Việc đánh giá các hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận ATSH trải qua quá trình thẩm định kỹ lưỡng, khoa học của Hội đồng ATSH và Tổ chuyên gia, những người có chuyên môn, kinh nghiệm trong các lĩnh vực có liên quan.

Tính đến nay, Bộ TN&MT đã cấp Giấy chứng nhận ATSH cho 05 sự kiện ngô BĐG kháng sâu hại và chống chịu thuốc trừ cỏ, bao gồm:

Ngô BĐG kháng sâu bộ cánh vảy MON89034 (Quyết định số 1836/QĐ-BTNMT ngày 27/8/2014);

Ngô BĐG chống chịu thuốc trừ cỏ GA21 (Quyết định số 2485/QĐ-BTNMT ngày 03/11/2014);

Ngô BĐG chống chịu thuốc trừ cỏ NK603 (Quyết định số 2486/QĐ-BTNMT ngày 03/11/2014);

Ngô BĐG kháng sâu đục thân Bt11 (Quyết định số 70/QĐ-BTNMT 14/01/2015);

Ngô BĐG kháng sâu bộ cánh phấn TC1507 (Quyết định số 1747/QĐ-BTNMT 02/8/2016).

Có thể nói, việc thẩm định các hồ sơ nêu trên đã được Bộ TN&MT thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ATSH đối với sinh vật BĐG và quy trình thẩm định này cũng dựa theo kinh nghiệm và các chuẩn mực về đánh giá hồ sơ và chứng nhận ATSH đã được tiến hành trên thế giới. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận ATSH, các giống ngô BĐG đã được gieo trồng thương mại tại nước ta, đánh dấu Việt Nam là quốc gia thứ 29 trên thế giới cho phép trồng cây BĐG phục vụ mục đích thương mại vào năm 2015. Trên cơ sở Giấy chứng nhận ATSH được cấp cho 05 sự kiện BĐG nêu trên, Bộ NN&PTNT (Cục Trồng trọt) đã công nhận đặc cách 16 giống ngô BĐG, bao gồm: NK66Bt, NK66Bt/GT, NK66GT, K4300Bt/GT, NK67Bt/GT, NK7328Bt/GT (Công ty TNHH Syngenta Việt Nam), C919S, C919R, DK9955S, DK9955R, DK6818S, DK6818R, DK6919S, DK6919R,  DK8868S (Công ty TNHH Dekalb Việt Nam), C.P.501S (Công ty TNHH Hạt giống C.P. Việt Nam). Các giống ngô BĐG được xem xét công nhận dựa theo các tiêu chí được quy định tại Thông tư số 29/2014/TT-BNNPTNT ngày 05/9/2014 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc sửa đổi, bổ sung Điều 7 Thông tư số 23/2010/TT-BNNPTNT ngày 07/4/2010 về công nhận tiến bộ kỹ thuật CNSH của ngành NN&PTNT, cụ thể: (i) Hiệu quả kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm cao hơn so với kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm đang sử dụng phổ biến trong sản xuất;(ii) Phù hợp yêu cầu sản xuất (cơ cấu cây trồng, mùa vụ; giảm mức độ nhiễm sâu bệnh; sản xuất sạch, thân thiện môi trường, thích ứng, né tránh điều kiện ngoại cảnh bất thuận, có tính cạnh tranh cao hơn, bảo vệ sức khoẻ con người, phát triển ngành nghề truyền thống, chất lượng sản phẩm tốt hơn, phù hợp với điều kiện sản xuất, phong tục tập quán và một số lợi thế khác); (iii) Giống cây trồng BĐG tương đồng với giống nền về các tính trạng hình thái đặc trưng.

Tính đến hết năm 2017, tổng lượng hạt giống ngô BĐG đã nhập khẩu khoảng 1.500 tấn (tương đương với khoảng trên 80.000 ha diện tích). Giống ngập khẩu đều là các giống chứa đơn gen hoặc mang tổ hợp 2 gen có chứa 02 sự kiện kháng sâu đục thân và kháng thuốc trừ cỏ và được gieo trồng chủ yếu tại hầu hết các vùng trồng cả nước.

Cấp Giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

Bộ NN&PTNT đã tiếp nhận và xử lý 48 hồ sơ đăng ký cấp giấy xác nhận thực vật BĐG đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi. Tính đến nay, Bộ NN&PTNT đã cấp Giấy xác nhận thực vật BĐG đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi cho 39 sự kiện, cụ thể:

14 sự kiện đậu tương BĐG:  40-3-2 chống chịu thuốc trừ cỏ; MON 87705 hàm lượng axit oleic cao và chống chịu thuốc trừ cỏ; MON 87701 kháng sâu bộ cánh vẩy; MON 88708 chống chịu thuốc trừ cỏ; MON 87769 giàu omega-3; MON 89788 chống chịu thuốc trừ cỏ; A5547-127 chống chịu thuốc trừ cỏ; A2704-12 chống chịu thuốc trừ cỏ; DAS-68416-4 chống chịu thuốc trừ cỏ; DAS-444O6-6 chống chịu thuốc trừ cỏ; DP305423-1 tăng cường hàm lượng axit oleic; SYHT0H2 chống chịu thuốc trừ cỏ; CV127 chống chịu thuốc trừ cỏ; FG72 chống chịu thuốc trừ cỏ.

16 sự kiện của ngô BĐG: MON 88017 chống chịu thuốc trừ cỏ và kháng sâu hại rễ ngô; MON 87460 chịu hạn; MON 87427 chống chịu thuốc trừ cỏ; MON 810 kháng sâu đục thân; NK603 chống chịu thuốc trừ cỏ; MON 89034 kháng sâu hại bộ cánh vẩy; GA21 chống chịu thuốc trừ cỏ không chọn lọc; Bt11 kháng sâu hại bộ cánh vẩy; MIR162 kháng sâu hại bộ cánh vẩy; 5307 kháng sâu hại rễ; MIR 604 kháng sâu hại rễ ngô thuộc bộ cánh cứng; 3272 chuyển hóa mannose; T25 chống chịu thuốc trừ cỏ; TC 1507 kháng sâu hại bộ cánh vẩy; DAS-59122-7 kháng sâu hại bộ cánh cứng; DAS-4O278-9.

04 sự kiện Cải dầu BĐG: MS8 bất dục đực và chống chịu thuốc trừ cỏ; RF3 phục hồi bất dục đực và chống chịu thuốc trừ cỏ; RT73 cải dầu chống chịu thuốc trừ cỏ; MON 88302 cải dầu chống chịu thuốc trừ cỏ.

02 sự kiện cỏ linh lăng BĐG: J101 (MON) chống chịu thuốc trừ cỏ; J163 (MON) chống chịu thuốc trừ cỏ.

02 sự kiện bông BĐG: MON 15985 kháng sâu bộ cánh vẩy; MON 88913 chống chịu thuốc trừ cỏ.

01 sự kiện củ cải đường BĐG: H7-1 củ cải đường chống chịu thuốc trừ cỏ

Các sự kiện BĐG được cấp Giấy xác nhận thực vật BĐG đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi nêu trên đều là những sự kiện đã được 05 quốc gia phát triển cho phép sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và chưa xảy ra rủi ro ở các nước đó.

Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về sinh vật biến đổi gen và công khai thông tin về sinh vật biến đổi gen đối với môi trường, đa dạng sinh học, sức khỏe con người và vật nuôi

Từ năm 2006, Bộ TN&MT đã xây dựng và đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử về an toàn sinh học tại địa chỉ: http://www.antoansinhhoc.vn. Cổng thông tin là địa chỉ tra cứu hữu ích cho doanh nghiệp, công chúng quan tâm về các thông tin liên quan đến an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen trong nước và quốc tế cũng như là công cụ để nâng cao nhận thức của cộng đồng về công nghệ chuyển gen. Bên cạnh đó, với vai trò là đầu mối quốc gia thực hiện NĐT Cartagena tại Việt Nam, Bộ TN&MT cũng thường xuyên cập nhật các thông tin về an toàn sinh học của Việt Nam lên trang thông tin điện tử an toàn sinh học quốc tế.

Các Bộ, ngành có liên quan đã phối hợp với các cơ quan truyền thông xây dựng các phóng sự, phim tài liệu về việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen; in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung liên quan đến vấn đề an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen (Hướng dẫn giải thích Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học; đánh giá và quản lý rủi ro các sinh vật biến đổi gen; các câu hỏi thường gặp về an toàn sinh học; khung phân tích rủi ro của Australia; kiến thức cơ bản về sinh vật biến đổi gen và an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen; quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen,…).

Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ KH&CN đã phối hợp với các tổ chức trong nước và quốc tế tổ chức các hội thảo, tập huấn, đào tạo nhằm tăng cường năng lực cho các cán bộ quản lý, nhà nghiên cứu và nâng cao nhận thức của cộng đồng về sinh vật biến đổi gen.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan