Thứ 2, 26/09/2022 - 01:22
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2025

      Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 12 tháng 8 năm 2021 về phiên họp Chính phủ trực tuyến toàn quốc với các địa phương về tình hình kinh tế-xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2021.

      Theo đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khẩn trương triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội khoá XV, kỳ họp thứ nhất về các kế hoạch 05 năm về phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn;  điều chỉnh dự toán chi ngân sách nhà nước và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2019. Hưởng ứng mạnh mẽ Lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác phòng, chống đại dịch Covid-19, yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các biện pháp, giải pháp theo các nghị quyết, kết luận của Đảng, Nhà nước, nhất là Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ với mục tiêu ưu tiên cao nhất là nhanh chóng kiểm soát dịch COVID-19 tại những địa phương đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặt sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết, không để xảy ra khủng hoảng y tế, kinh tế - xã hội và bảo đảm đời sống cho người dân. Tiếp tục thực hiện linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép”, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh ở những nơi bảo đảm an toàn dịch bệnh; đồng thời tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế đi đối với bảo đảm an sinh xã hội, đời sống của nhân dân.

      Về phía Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ giao Bộ tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm gồm:

      Thứ nhất, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 và Kế hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2025, báo cáo Chính phủ thông qua trong tháng 8 năm 2021 để trình Quốc hội khóa XV kỳ họp thứ hai xem xét, quyết định.

      Thứ hai, tổng kết đánh giá toàn diện, kỹ lưỡng việc thi hành Luật Đất đai và xây dựng dự án Luật Đất đai (sửa đổi) để trình Quốc hội khóa XV kỳ họp thứ ba xem xét, cho ý kiến.

      Thứ ba, chỉ đạo các đơn vị chức năng chủ động, tích cực cung cấp kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo về khí tượng, thủy văn để phục vụ kịp thời, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai, hạn chế tối đa thiệt hại.

      Thứ tư, trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng thể chế, pháp luật; khẩn trương hoàn thành việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời phát hiện mâu thuẫn, chồng chéo, làm phát sinh khó khăn, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tiễn để báo cáo, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền.

      Ngày đăng: 13/8/2021.

126. Quy định mới về căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

      Thời gian vừa qua, Nghị định số 41/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được chính phủ ban hành và đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2021.

      Nghị định sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, trong đó có căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, theo đó, căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước gồm:

      Thứ nhất, căn cứ vào mục đích sử dụng nước, gồm: Khai thác nước dùng cho sản xuất thủy điện; Khai thác nước dùng cho kinh doanh, dịch vụ; Khai thác nước dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, bao gồm cả nước làm mát máy, thiết bị, tạo hơi, gia nhiệt; Khai thác nước dưới đất dùng cho tưới cà phê, cao su, điều, chè, hè tiêu và cây công nghiệp dài ngày khác; Khai thác nước dưới đất dùng cho nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc.

      Thứ hai, căn cứ vào chất lượng nguồn nước

      Chất lượng nguồn nước được xác định theo phân vùng chất lượng nước hoặc phân vùng chức năng nguồn nước trong các quy hoạch tài nguyên nước hoặc các quy hoạch về tài nguyên nước theo pháp luật về quy hoạch hoặc quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt; trường hợp chưa có quy hoạch hoặc trong quy hoạch chưa phân vùng thì căn cứ vào chất lượng thực tế của nguồn nước khai thác.

      Thứ ba, căn cứ vào loại nguồn nước khai thác gồm: Nước mặt, nước dưới đất.

      Thứ tư, căn cứ vào điều kiện khai thác

      Đối với nước mặt xác định theo khu vực nguồn nước mặt được khai thác;

      Đối với nước dưới đất xác định theo loại hình công trình khai thác (giếng khoan, giếng đào, hố đào, hành lang, mạch lộ, hang động), trường hợp công trình là giếng khoan thì xác định theo chiều sâu khai thác.

      Thứ năm, căn cứ vào quy mô khai thác

      Đối với khai thác nước cho thủy điện được xác định theo hồ sơ thiết kế;

      Đối với trường hợp khai thác, sử dụng nước cho mục đích khác với quy định tại điểm a khoản này được xác định theo giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và tỷ lệ cấp nước cho các mục đích sử dụng.

      Thứ sáu, thời gian khai thác được xác định trên cơ sở thời gian bắt đầu vận hành công trình, thời điểm giấy phép bắt đầu có hiệu lực và thời hạn quy định trong giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan