Thứ 6, 30/09/2022 - 11:07
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Nam gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 05 ý kiến của cử tri tỉnh Quảng Nam do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến, chủ yếu kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến lĩnh vực đất đai.

Một là, về vướng mắc về thủ tục pháp lý liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị sớm sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, cụ thể:   

a. Về đất của hộ gia đình, hiện nay, việc xác nhận thành viên hộ gia đình trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức hành nghề công chứng có nhiều quan điểm khác nhau, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết hồ sơ của công dân. Cụ thể: - Xác định thành viên hộ gia đình: Có nơi xác định thành viên hộ gia đình là vợ (chồng), con của người chủ hộ đứng tên trong GCNQSDĐ. Có nơi xác định thành viên hộ gia đình là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng cùng có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp GCNQSDĐ. Có nơi xác định người đứng tên đại diện hộ trong GCNQSDĐ được toàn quyền định đoạt. - Thời điểm xác nhận thành viên hộ gia đình có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau: Lúc xác định là thời điểm hình thành thửa đất, có lúc xác định là thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

 b. Trường hợp mất trang bổ sung của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Một số trường hợp GCNQSDĐ bị thất lạc trang bổ sung, nhưng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hiện nay không lưu trữ thông tin về trang bổ sung trên nên không thể làm thủ tục hủy trang bổ sung cũ, cấp trang bổ sung mới theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, hiện nay chưa có hướng dẫn xử lý trường hợp này; do đó, các thủ tục đất đai có liên quan không thể thực hiện được.

c. Văn bản phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Theo quy định tại Điều 38 và Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung, nếu không ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, đồng thời không nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ theo quy định. Nội dung thỏa thuận sẽ được ghi thành văn bản và sẽ được tổ chức hành nghề công chứng thực hiện thủ tục công chứng theo quy định. Tuy nhiên, tại Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT và Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên – Môi trường không hướng dẫn cụ thể việc sang tên trên GCNQSDĐ theo nội dung văn bản trên, nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có căn cứ để tiếp nhận và giải quyết.

d. Việc tách thửa, hợp thửa liền kề đối với trường hợp phải làm thủ tục thừa kế hiện nay không thể thực hiện được, cụ thể: Hộ gia đình A và hộ gia đình B đang sử dụng 02 thửa đất liền kề nhau, đã được cấp GNQSDĐ. Trong phần diện tích đất đã được cấp cho hộ gia đình A, hiện có 0,25m2 đang bị hộ gia đình B bao chiếm, sử dụng. Hộ gia đình A và hộ gia đình B đều thống nhất với hiện trạng này và không có bất kỳ tranh chấp nào. UBND huyện đã hướng dẫn hai bên lập thủ tục tách phần diện tích 0,25m2 để hợp thửa liền kề theo hiện trạng sử dụng. Tuy nhiên, vì hộ gia đình B có người chồng chết mà các thành viên trong hộ không thống nhất làm thủ tục thừa kế, nên không thể lập thủ tục tách thửa, hợp thửa liền kề. 

e. Hình thức sử dụng đất: Tại điểm b, khoản 5, Điều 6 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên – Môi trường quy định: “Trường hợp toàn bộ diện tích thửa đất thuộc quyền sử dụng của nhiều người sử dụng đất thì ghi “sử dụng chung” vào mục hình thức sử dụng”. Tuy nhiên, có trường hợp hai anh em cùng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ghi “sử dụng chung” vào mục hình thức sử dụng trong GCNQSDĐ; điều này khiến hai anh em không thể dùng quyền sử dụng đất trên để thế chấp, vay vốn tại ngân hàng.

f. Bản án đã có hiệu lực pháp luật với nội dung tuyên hủy “phần cập nhật trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, khi thi hành án, người đang chiếm hữu Giấy chứng nhận không bàn giao; trong khi đó, Cơ quan Thi hành án dân sự không thể buộc người chiếm hữu bàn giao (vì bản án không tuyên); Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không thể lập thủ tục hủy cập nhật nếu không có Giấy chứng nhận. 

g. Xử phạt hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận: Tại khoản 3, Điều 18 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai, có quy định xử phạt hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận. Trong trường hợp người sử dụng đất nông nghiệp xây dựng nhà ở không phép rồi chuyển nhượng qua nhiều chủ khác nhau, đến khi chính quyền phát hiện thì người đang sử dụng không phải là người xây dựng công trình nhà ở không phép trên đất thì xử lý hành chính như thế nào, hiện nay các cơ quan, địa phương rất lúng túng và có cách hiểu khác nhau. Đề nghị có quy định, hướng dẫn cụ thể xử phạt người đang sử dụng đất hay xử lý người xây dựng công trình?

Về đất của hộ gia đình

Tại Khoản 29 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 đã quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

Tại Điều 84 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã quy định trình tự, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, nhóm người sử dụng đất. Do đó các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của thành viên hộ gia đình cần do các thành viên thỏa thuận theo quy định của pháp luật về dân sự và được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Về trường hợp mất trang bổ sung của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Về vấn đề cử tri phản ánh liên quan đến trách nhiệm lưu trữ, quản lý hồ sơ của cơ quan giải quyết thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Vì vậy, cần thanh tra, kiểm tra làm rõ trách nhiệm mới có cơ sở xem xét xử lý.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị cử tri phản ánh về Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam để được chỉ đạo xem xét, giải quyết. Trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam gặp khó khăn trong việc giải quyết và có báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ xem xét hướng dẫn giải quyết theo quy định.

Về văn bản phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Về vấn đề cử tri phản ánh được thực hiện theo thủ tục quy định tại Điều 84 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai: “Trình tự, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn; kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, nhóm người sử dụng đất”.

Về việc tách thửa, hợp thửa liền kề đối với trường hợp phải làm thủ tục thừa kế

Về vấn đề cử tri nêu liên quan đến thỏa thuận dân sự về thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về dân sự. Sau khi thực hiện xong các thủ tục về phân chia thừa kế thì mới có cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai.

Về hình thức sử dụng đất

Đối với trường hợp quyền sử dụng đất chung thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:

“2. Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:

a) Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.

Trường hợp trong nhóm người sử dụng đất có thành viên là tổ chức kinh tế thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế theo quy định của Luật này;

b) Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.”

Đối với việc thế chấp tại ngân hàng thì thực hiện theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và người vay vốn trên cơ sở của pháp luật về tín dụng.

Đối với việc hủy phần cập nhật trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tại Khoản 7 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: “7. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; lập danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử.”

Về xử phạt hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận

Người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng sử dụng đất theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Việc người sử dụng đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận thì xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 3 Điều 18 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai.

Tại điểm a khoản 4 Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 quy định: “Trường hợp vi phạm hành chính xảy ra trước khi chuyển quyền sử dụng đất thì bên chuyển quyền sử dụng đất bị xử phạt vi phạm hành chính và phải thực hiện biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (nếu khi xử phạt hành vi chuyển quyền buộc bên nhận chuyển quyền phải trả lại đất cho bên chuyển quyền) theo quy định. Bên nhận chuyển quyền sử dụng đất phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả còn lại đối với từng trường hợp vi phạm theo quy định”. Do đó, vấn đề cử tri nêu cần xác định chủ thể đã xây dựng nhà ở không phép trên đất đất nông nghiệp để xử phạt vi phạm hành chính.

Hai là, về thẩm quyền của HĐND các cấp:

a. Về trình tự, điều kiện thông qua danh mục thu hồi đất: Nội dung này còn chồng chéo, bất cập giữa Điều 67 Thông tư 29/2014/TT-BTNMT (Các dự án quy định tại Điều 61 và khoản 1, 2 Điều 62 của Luật Đất đai và đã được ghi vốn thực hiện trong năm kế hoạch; các dự án quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật Đất đai và đã được ghi vốn thực hiện trong năm kế hoạch đối với các dự án thực hiện bằng ngân sách nhà nước; có văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các dự án còn lại) và điểm a, khoản 4, Điều 9 Nghị định số  43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (Quý III hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của năm sau đến Sở Tài nguyên và Môi trường để tổ chức thẩm định). Thực tế thì kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện cuối năm mới phân bổ vốn đầu tư cho các công trình, dự án và phát triển kinh tế - xã hội năm sau. Vì vậy, các công trình, dự án sử dụng nguồn ngân sách nhà nước đưa vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện không thể đáp ứng quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 9 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Do đó, đề nghị xem xét, điều chỉnh các quy định về thời gian để đảm bảo tính khả thi.

b. Thẩm quyền thông qua kế hoạch sử dụng đất của Hội đồng nhân dân cấp huyện: Quy định chưa đồng bộ giữa Luật Đất đai 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015: Luật Đất đai không quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong khi đó Luật Tổ chức chính quyền địa phương (điểm a, khoản 2, Điều 26) quy định thẩm quyền Hội đồng nhân dân cấp huyện thông qua kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Do đó, cần xem xét sửa đổi Luật Đất đai theo hướng bổ sung quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong việc thông qua kế hoạch sử dụng đất hằng năm.

c. Thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất rừng giữa Luật Đất đai 2013 và Luật Lâm nghiệp còn bất cập: Tại điểm b, khoản 1, Điều 58 Luật Đất đai 2013 không quy định thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng đối với đất rừng sản xuất. Tuy nhiên khoản 3, Điều 20 Luật Lâm nghiệp quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh được quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng sản xuất dưới 50 ha. Do đó, đề nghị xem xét điều chỉnh Luật Đất đai 2013 theo hướng bổ sung thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng sản xuất để đồng bộ với quy định Luật Lâm nghiệp 2017. 

d. Đối với công tác xác định giá đất cụ thể: Theo quy định của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và khoản 1, Điều 28 Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì hằng năm căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được phê duyệt để lập kế hoạch định giá đất cụ thể của năm tiếp theo trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt trước ngày 30/6 hàng năm. Trong khi đó, tại điểm e, khoản 4, Điều 9 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được phê duyệt trước ngày 31/12; do đó, kế hoạch định giá đất cụ thể sẽ khó kịp tiến độ theo yêu cầu; đề nghị xem xét, điều chỉnh các quy định về thời gian để đảm bảo tính khả thi

Về trình tự, điều kiện thông qua danh mục thu hồi đất

Theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 9 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ thì Quý III hàng năm, Uỷ ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của năm sau đến Sở Tài nguyên và Môi trường để tổ chức thẩm định (trong đó có các công trình, dự án thu hồi đất sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước được ghi vốn thực hiện trong năm kế hoạch); trường hợp hồ sơ hợp lệ Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ gửi đến các thành viên Hội đồng thẩm định, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua trước khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt (trước ngày 31 tháng 12). 

Trong khi theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm thì việc phê duyệt quyết định đầu tư đã phải xong trước ngày 31 tháng 10; theo đó trước khi phê duyệt Ủy ban nhân dân cấp huyện đã tổng hợp, đề xuất với Sở Kế hoạch và Đầu tư để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến trước ngày 25 tháng 7 theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ.

Do đó, việc quy định Quý III hàng năm, Uỷ ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của năm sau đến Sở Tài nguyên và Môi trường để tổ chức thẩm định (trong đó có các công trình, dự án thu hồi đất sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước được ghi vốn thực hiện trong năm kế hoạch) đảm bảo hạn chế “dự án treo” và phù hợp với pháp luật khác có liên quan.

Thẩm quyền thông qua kế hoạch sử dụng đất của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận và xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất rừng giữa Luật Đất đai 2013 và Luật Lâm nghiệp

Luật Đất đai năm 2013 và Luật Lâm nghiệp là hai ngành Luật có phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng khác nhau. Tuy nhiên, hai ngành Luật này cũng có mối quan hệ về tài sản gắn liền với đất là rừng cây. Do đó để đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận và xem xét trong quá trình sửa đổi chính sách, pháp luật đất đai trong thời gian tới. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đề nghị cử tri có ý kiến phản ánh tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn để được xem xét sửa đổi pháp luật về lâm nghiệp cho phù hợp đảm bảo tính đồng bộ.

Đối với công tác xác định giá đất cụ thể

Về nội dung này, ngày 27 tháng 01 năm 2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; theo đó, khoản 1 Điều 28 của Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT đã sửa đổi, bổ sung tại Điều 22 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT như sau: “1. Căn cứ dự thảo kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện, kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Sở Tài nguyên và Môi trường lập kế hoạch định giá đất cụ thể của năm tiếp theo trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng thời với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện; việc lựa chọn tổ chức có chức năng tư vấn giá đất thực hiện kế hoạch định giá đất cụ thể phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 3 hàng năm.”

Ba là, đối với các điều khoản cụ thể trong Luật Đất đai:

a. Trách nhiệm quản lý Nhà nước về đất đai (Điều 23), cơ quan quản lý đất đai (Điều 24): Khoản 3, Điều 23 quy định “Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại luật này”. Khoản 1, Điều 24 quy định “Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương”. Theo đó, cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ. (Theo Thông tư số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014 thì Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, thị xã, thành phố không có chức năng quản lý hồ sơ địa chính; đồng thời Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai (trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường) quản lý hồ sơ địa chính như bản đồ, mục kê, sổ đăng ký… Như vậy, UBND huyện, Pḥng Tài nguyên và Môi trường huyện là cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, cơ quan quản lý đất đai ở địa phương nhưng không có công cụ gì để quản lý, do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai và quản lý đất đai. Đề nghị xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai để chuyển Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai về UBND cấp huyện để thuận lợi trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai và quản lý đất đai tại địa phương.

b. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 49): Tại khoản 2 quy định “Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, tại khoản 2, Điều 91; điểm a, khoản 1, Điều 93 và khoản 2, Điều 94 Luật Xây dựng quy định đối với điều kiện cấp phép các công trình xây dựng trong đô thị, nhà riêng lẻ và cấp phép xây dựng có thời hạn thì phải “Phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt”. Do đó, thực tế tại các địa phương không thể tiến hành cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình xây dựng chưa có trong kế hoạch sử dụng đất, nhưng không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của người sử dụng đất. Kính đề nghị Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Xây dựng cho phù hợp với quy định của Luật Đất đai.

c. Cho thuê đất (Điều 56): Đề nghị xem xét quy định cụ thể việc giao đất, cho thuê đất khu vực biên giới đất liền, biên giới biển, hải đảo theo hướng giao đất, cho thuê đất có thời hạn (không giao đất lâu dài) nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, biên giới, hải đảo.

d. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64): Tại điểm đ, khoản 1 quy định “Trường hợp đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm thì bị thu hồi”. Tuy nhiên, việc tổ chức thu hồi đối với trường hợp này vẫn chưa được thực hiện, do chưa có hướng dẫn cụ thể. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai trong trường hợp “Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm đất”.

Tại điểm g, khoản 1 qui định: “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành”; tuy nhiên, việc không thực hiện nghĩa vụ tài chính thì không quy định xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ quy định phạt nộp chậm hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế. Mặt khác, khoản 13, Điều 1 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung Điều 15a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, nhưng nhận thấy không phù hợp, còn bất cập vì Luật có tính pháp lý cao hơn Nghị định. Đề nghị sửa lại điểm g, khoản 1, Điều 64, Luật Đất đai 2013 như sau: “g) Người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính mà không chấp hành”.

Đề nghị Quốc hội xem xét bổ sung đối tượng bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật là “đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối” vào điểm h, khoản 1 và viết lại như sau: “h) Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục”.

Tại điểm i, khoản 1 quy định về trường hợp dự án bị chậm tiến độ: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng”. Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn đối tượng bị thu hồi theo quy định này. Cần phải làm rõ các trường hợp dự án đã được bàn giao đất từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thì thời gian bị coi là chậm tiến độ được tính toán tại thời điểm nào? Đề nghị bổ sung vào Điều 73 quy định về cơ chế xử lý đối với trường hợp nhà đầu tư không thỏa thuận được với chủ sử dụng đất để nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn quyền sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh để hài hòa giữa lợi ích của Nhân dân và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Hơn nữa, quy định của pháp luật trong việc xử lý thu hồi đối với các trường hợp sử dụng đất vi phạm pháp luật còn chưa rõ ràng, chồng chéo như: đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng, dự án chậm tiến độ, đã được gia hạn sau kết luận thanh tra, kiểm tra và sau đó lại tiếp tục chậm tiến độ thì chưa có quy định xử lý như thế nào vì theo quy định tại điểm i, Khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai chỉ quy định hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất (quy định này chỉ phù hợp với trường hợp vi phạm không đưa đất vào sử dụng, nên việc xử lý đối với trường hợp đất đã đưa vào sử dụng nhưng chậm tiến độ còn nhiều lúng túng, vì chưa có quy định rõ ràng; ngoài ra, quy định về gia hạn sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai và gia hạn tiến độ dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư chưa có sự kết nối và thống nhất với nhau; việc xử lý tài sản trên đất đối với dự án chậm tiến độ theo quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai còn nhiều lúng túng và không có tính khả thi do theo quy định là không được bồi thường nhưng thực tế giá trị tài sản lớn).

 e.Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 69): Điều 69 chỉ mới quy định những thủ tục cơ bản về thu hồi đất, đề nghị cần bổ sung thêm những thủ tục chi tiết vào Điều 69, như: Chuẩn bị hồ sơ địa chính cho diện tích đất bị thu hồi; xác định giá đất cụ thể để bồi thường; xác định giá đất tái định cư... Đồng thời, cần hợp nhất 02 thủ tục “kế hoạch thu hồi đất” và “thông báo thu hồi đất” tại Điều 69 (được hướng dẫn tại Điều 17, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai) tránh trùng lắp, chồng chéo khi thực hiện, vì nội dung của 02 thủ tục này tương đối giống nhau.

f. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất (Điều 71): Đề nghị bổ sung quy định về việc cưỡng chế thu hồi đất vi phạm pháp luật về đất đai (trong Điều 64) vào Điều 71 (tại Điều 71 chỉ quy định cưỡng chế thu hồi đất với trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư theo Điều 61, Điều 62 mà không quy định việc cưỡng chế thu hồi đất vi phạm pháp luật về đất đai tại Điều 64. Do đó, địa phương gặp khó khăn, lúng túng trong quá trình cưỡng chế các trường hợp này do luật không quy định cụ thể).

g. Sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh (Điều 73): Tại khoản 1 chưa hướng dẫn cụ thể, chưa xác định mức giá trần để làm cơ sở cho việc thực hiện thỏa thuận thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh; đề nghị cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, mức giá trần để làm cơ sở trong trường hợp thỏa thuận với người dân.

h. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 74): Tại khoản 2 quy định “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”. Tuy nhiên, khi kiểm kê áp giá đến khi có quyết định bồi thường là một khoảng thời gian khá dài, giá cả thị trường thay đổi, bên cạnh đó các cơ quan chuyên môn khi tính giá thực tế để bồi thường không sát với giá thị trường, vì vậy, rất khó cho người dân sau khi nhận bồi thường để ổn định cuộc sống. Vấn đề này cần nghiên cứu xem xét điều chỉnh cho phù hợp.

i. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (Điều 77): Tại điểm b, khoản 1, Điều 77 quy định “Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt quá hạn mức quy định tại Điều 129 thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại”. Trong quá trình triển khai phương án bồi thường, áp dụng quy định trên gây thiệt hại cho người dân. Đề nghị Quốc hội cần xem xét có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

j. Lập và thực hiện dự án tái định cư (Điều 85): Tại Điều 85, Luật Đất đai 2013 thì khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng. Như vậy, đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị trong trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở thì người bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch này, trừ trường hợp nhỏ hơn suất tái định cư tối thiểu. Mặc dù, việc bồi thường về đất được xác định theo giá đất cụ thể ,tuy nhiên đối với khu vực nông thôn thì giá trị bồi thường về đất vẫn khá thấp (tương ứng thực trạng cơ sở hạ tầng vùng nông thôn); vì vậy, khi vào nhận đất tái định cư, giá đất tái định cư thường cao hơn (do đầu tư hạ tầng đồng bộ) dẫn đến người dân không đủ khả năng để nộp phần chênh lệch, vì vậy phần lớn không chấp thuận nhận tiền. Do đó, đề nghị xem xét điều chỉnh quy định về xử lý chênh lệch về giá trị đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất ở mới theo hướng Nhà nước hỗ trợ tiền sử dụng đất chênh lệch trong trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất tái định cư để bảo đảm quyền lợi và đời sống của người dân sau tái định cư.

k. Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Điều 95): Đề nghị bổ sung vào khoản 4, Điều 95 một điểm “Quy định cơ quan thực hiện việc đăng ký biến động đất đai” để cơ quan chức năng có cơ sở thực hiện.

l. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Điều 100): Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, một trong những giấy tờ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993” và đây cũng là một trong các căn cứ pháp lý để công nhận lại diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao trước ngày 18/12/1980. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, hầu hết Sổ địa chính được lập sau ngày 15/10/1993 (riêng Sổ đăng ký ruộng đất được lập theo Chỉ thị 299 vào thời điểm khoảng sau năm 1980; do đó, hiện nay tại các địa phương không còn lưu trữ hoặc còn nhưng không đảm bảo tính pháp lý (không có cơ quan nào ký xác nhận) nên việc áp dụng quy định này đã ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của nhiều hộ dân (trong khi đó, Luật Đất đai năm 2003 không quy định thời điểm này). Do đó, đề nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh việc áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 tương tự như điểm b, Khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 để quyền lợi của người sử dụng được đảm bảo liên tục, ổn định giữa 2 lần thay đổi Luật Đất đai.

m. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Điều 101): 

Đề nghị bổ sung cụm từ “liên tục vào một mục đích chính nhất định” vào khoản 2 và viết lại như sau "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định liên tục vào một mục đích chính nhất định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất", để thống nhất với quy định tại Điều 3 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

n. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn ao (Điều 103): Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trước Luật Đất đai 2003, có loại “đất thổ cư”, thời hạn sử dụng lâu dài, trường hợp sử dụng đất trước ngày 18/12/1980 nhưng không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Như vậy, khi xác định diện tích đất ở phải thực hiện theo quy định tại Khoản 5, Điều 103 (nghĩa là xác định diện tích đất ở theo hạn mức, phần diện tích còn lại của thửa đất được xác định là đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở) mà không được xác định toàn bộ diện tích đất thổ cư này là đất ở theo quy định tại khoản 2, Điều 103 của Luật Đất đai 2013. Việc xác định lại diện tích đất ở này ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất có nguồn gốc từ trước ngày 18/12/1980, trên thực tế, do chưa có hướng dẫn giải thích thuật ngữ “đất thổ cư” do đó việc áp dụng pháp luật giữa cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp có khác nhau. Đề nghị xem xét bổ sung hướng dẫn, quy định rõ về loại “đất thổ cư, đồng thời bỏ quy định Sổ địa chính trước ngày 15/3/1993 tại điểm b, khoản 1, Điều 100 Luật đất đai 2013.

o.Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Điều 105): Đề nghị xem xét, sửa đổi quy định tại khoản 3, Điều 105 giao thẩm quyền thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận QSDĐ cho UBND cấp huyện thực hiện. Thực tiễn cho thấy, hầu hết hồ sơ đề nghị cấp đổi lại Giấy chứng nhận QSĐĐ liên quan nhiều đến khiếu nại, khiếu kiện do UBND huyện cấp Giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu có sai sót phải thu hồi để thực hiện cấp đổi lại. Nhằm thuận lợi trong quá trình theo dõi, quản lý đất đai cũng như giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; thuận lợi trong quá trình theo dõi biến động, chỉnh lý biến động đất đai của các địa phương (cấp huyện).

p. Đính chính thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp (Điều 106): Tại điểm d, khoản 2, Điều 106 Luật Đất đai quy định Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất (gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất); còn tại khoản 5, Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ chỉ quy định trường hợp đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất Nhà nước mới không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật và có bổ sung trường hợp không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật khi người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất.

Về quy trình thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật: Tại khoản 3, Điều 106 Luật Đất đai quy định “Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d, khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai”. Tuy nhiên, tại khoản 56, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai quy định “Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định”. Như vậy, giữa Luật Đất đai và Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ đã có sự khác nhau, Luật Đất đai chỉ quy định cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy thu hồi Giấy sau khi có kết luận của Thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, trong khi đó, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP thì quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy tự phát hiện Giấy đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì quyết định thu hồi.

Đề nghị cần có quy định thống nhất các nội dung trên.

q. Căn cứ, thời điểm tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất (Điều 108): Xem xét sửa đổi, bổ sung khoản 3, theo hướng quy định “Riêng đối với các dự án phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư có liên quan đến giá đất thì thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm nhà đầu tư tham gia đấu thầu”.

r. Hạn mức giao đất nông nghiệp (Điều 129): Tại điểm b, khoản 1 quy định hạn mức giao đất nuôi trồng thủy sản cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất không quá 02 héc ta. Do vậy, khó khăn trong vấn đề thu hút đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tập trung, ứng dụng công nghệ cao, vì vướng vào quyền sử dụng đất, hạn mức giao đất nông nghiệp. Đề nghị Quốc hội sửa đổi cho phù hợp.

s. Hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (Điều 130): Tại khoản 1, quy định “Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của Luật này”, Tuy nhiên, trên thực tế việc quy định hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như vậy là còn thấp, dẫn đến việc các tổ chức, cá nhân khó khăn trong việc tích tụ được đất đai để sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Đề nghị điều chỉnh, bổ sung, các quy định mới về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm tạo điều kiện để tích tụ ruộng đất.

t. Đất sử dụng cho khu kinh tế (Điều 151): Quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 151 mâu thuẫn với Điều 53 Luật Đất đai, cụ thể:

Tại khoản 2, Điều 151 quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao đất cho Ban quản lý khu kinh tế để tổ chức xây dựng khu kinh tế theo kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt trong quy hoạch chi tiết xây dựng của khu kinh tế”. Khoản 3, Điều 151 quy định: “Ban quản lý khu kinh tế có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với diện tích đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi để giao cho mình trước khi giao lại đất, cho thuê đất”. Trong khi Điều 53 quy định “Việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng”. Đề nghị Quốc hội điều chỉnh cho phù hợp.

Khoản 2, Điều 151 quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao đất cho Ban quản lý khu kinh tế để tổ chức xây dựng khu kinh tế theo kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt trong quy hoạch chi tiết xây dựng của khu kinh tế”. Tuy nhiện, tại các khu chức năng do qui mô lớn (vài trăm ha) nên thực tế không thể lập quy hoạch chi tiết mà phải lập quy hoạch phân khu, sau khi duyệt mới kêu gọi nhà đầu tư vào lập quy hoạch chi tiết để đầu tư dự án. Từ thực tế trên, đề nghị xem xét sửa đổi có thể căn cứ quy hoạch phân khu được duyệt để làm cơ sở UBND tỉnh giao đất cho Ban Quản lý khu kinh tế theo kế hoạch sử dụng đất.

u. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê (Điều 174): Tại điểm c, khoản 4, quy định “Trường hợp được nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng”. Theo quy định tại khoản này được hiểu rằng nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất và nhà đầu tư thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm thì đều có quyền và nghĩa vụ như nhau (không quy định thời gian miễn là bao nhiêu năm). Hiện nay trong khu kinh tế thì theo quy định của Luật Đầu tư và danh mục ngành nghề ưu đãi, đặc biệt ưu đãi, địa bàn đặc biệt khó khăn… thì thời hạn miễn ít nhất theo quy định là 11 năm và tối đa là suốt đời dự án. Chính vì không quy định thời gian miễn phải gắn liền với quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nên bất cập, không công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính giữa các nhà đầu tư sử dụng đất trong khu kinh tế. Do vậy, cần điều chỉnh lại quy định này cho phù hợp.

v. Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở Việt Nam (Điều 186): Đề nghị xem xét, bổ sung Điều 186 quy định trường hợp “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hai (02) quốc tịch, trong đó có Quốc tịch Việt Nam” có được nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở như người Việt Nam ở trong nước hay không.

w. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 188): Theo quy định tại điểm a, khoản 1 thì điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận, tuy nhiên thực tiễn người sử dụng đất có Giấy chứng nhận nhưng tự ý chia thành nhiều thửa đất rồi chuyển nhượng cho nhiều người bằng giấy viết tay dẫn đến rất lúng túng khi xử lý hành vi này.

Theo quy định tại khoản 3 thì hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Quy định này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người nhận chuyển nhượng, vì sau khi công chứng hợp đồng thì giao dịch dân sự về chuyển nhượng thực hiện xong, có hiệu lực pháp luật. Quy định này cũng trái với khoản 1, điều 5, Luật Công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

Đề nghị quy định bổ sung một khoản, tại Điều 188 nội dung: “Nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, đang bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý” thì không được thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

x. Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất (Điều 191): Tại khoản 2, quy định “Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”, quy định này đang là rào cản đối với doanh nghiệp khi đầu tư vào nông nghiệp nông thôn theo hướng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp (đối với đất trồng lúa) để sản xuất với quy mô lớn và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến. Đề nghị điều chỉnh Luật đất đai theo hướng tạo điều kiện cho việc tích tụ đất đai, phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa.

y. Hòa giải tranh chấp đất đai (Điều 202): Tại khoản 4, quy định việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên, thực tiễn khi hòa giải không thành thì một trong các bên không ký biên bản thì giá trị pháp lý của biên bản hòa giải ở cơ sở như thế nào? Có được công nhận là biên bản hòa giải không thành hay không?.

 z. Trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai (Điều 208): Tại khoản 2 quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện, áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn, chiếm, đất sử dụng không đúng mục đích ở địa phương và buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm”, nhưng về biện pháp khắc phục hậu quả thì Chủ tịch UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền “Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm” mà không có thẩm quyền “buộc trả lại đất đã lấn, chiếm”. Đề nghị Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

Về trách nhiệm quản lý Nhà nước về đất đai (Điều 23), cơ quan quản lý đất đai (Điều 24)

Điều 105 của Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân chia làm 2 trường hợp:

Trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân thì thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận là Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận mà người sử dụng đất thực hiện quyền hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định Điều 105 của Luật Đất đai.

Việc đề xuất chuyển Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai về Ủy ban nhân dân cấp huyện là không phù hợp do trong bối cảnh hiện nay cả nước đã căn bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận lần đầu đối với các loại đất, việc cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng nói chung và hộ gia đình, cá nhân nói riêng chủ yếu là khi người sử dụng đất thực hiện quyền của mình. Các trường hợp này đã được cấp giấy chứng nhận lần  đầu nên đã một lần được được Nhà nước xác lập quyền ban đầu thông qua việc cấp giấy chứng nhận (Ủy ban nhân dân cấp huyện). Tuy nhiên, để tránh áp lực lên bộ máy hành chính nhà nước, đồng thời để tạo sự đồng bộ trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, phù hợp với xu thế quản lý đất đai hiện đại của các nước trên thế giới, việc quy định thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận khi người người sử dụng đất thực hiện quyền do các Văn phòng đăng ký đất đai, trong đó có các chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ở cấp huyện thực hiện trong trường hợp được Sở Tài nguyên và Môi trường ủy quyền cấp Giấy chứng nhận là phù hợp.

 Mặt khác, theo quy định tại Điều 70 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai sau khi tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, xác định đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận sẽ chuyển cơ quan tài nguyên và môi trường (ở đây là Phòng Tài nguyên và Môi trường) kiểm tra hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận.

Băn khoăn của cử tri về việc “Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện là cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, cơ quan quản lý đất đai ở địa phương nhưng không có công cụ gì để quản lý, do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai và quản lý đất đai” đã được nhiều địa phương giải quyết bằng việc ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính (theo tổng hợp báo cáo về tình hình hoạt động của hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai thì đã có 51/57 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có báo cáo gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính).

Về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Điều 49 của Luật Đất đai năm 2013 là nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân sống trong khu vực có quy hoạch. Tuy nhiên, kiến nghị của cử tri liên quan đến vấn đề cấp phép xây dựng và đề nghị sửa đổi Luật Xây dựng nên vấn đề này thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Xây dựng, đề nghị chuyển kiến nghị của cử tri đến Bộ Xây dựng để được xem xét giải quyết.

Về cho thuê đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Về thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật thực hiện theo quy định tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

Về kiến nghị của cử tri liên quan đến sửa đổi Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Về đề nghị bổ sung đối tượng bị thu hồi đất: kiến nghị của cử tri là có tính hợp lý, đảm bảo việc xử lý như nhau giữa các loại đất. Trong quá trình tổ chức thi hành Luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nhận được phản án của một số địa phương về vấn đề này. Tuy nhiên, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 được kế thừa từ Luật Đất đai năm 2003. Mặt khác, việc xác định hành vi vi phạm của người được giao đất, cho thuê đất vào mục đích nuôi trồng thủy sản, đất làm muối trong 12 tháng không sử dụng liên tục là rất khó xác định chính xác để xử lý nên pháp luật hiện hành chưa xử lý đối với trường hợp này.

Về nội dung kiến nghị tại điểm i khoản 1 Điều 64, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Về kiến nghị sửa đổi Điều 69 Luật đất đai liên quan đến trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Về cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

Trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật thực hiện theo quy định tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.

Về sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh

Pháp luật về đất đai hiện hành quy định cụ thể việc sử dụng đất để sản xuất kinh doanh theo 02 cơ chế sau: (i) Cơ chế Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, cụ thể: Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, dự án được Thủ tướng Chính phủ chập thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất; (ii) Cơ chế Nhà nước không thu hồi đất mà chủ đầu tư và người sử dụng đất tự thỏa thuận việc sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Đối với các trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh mà không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật Đất đai; Điều 16 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 15 và khoản 50 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và Điều 4 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 69 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; nội dung chủ yếu của phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm: Họ và tên, địa chỉ của người có đất thu hồi; diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất thu hồi; số lượng, khối lượng, giá trị hiện có của tài sản gắn liền với đất bị thiệt hại; các căn cứ tính toán số tiền bồi thường, hỗ trợ như giá đất tính bồi thường, giá nhà, công trình tính bồi thường, số nhân khẩu, số lao động trong độ tuổi, số lượng người được hưởng trợ cấp xã hội; số tiền bồi thường, hỗ trợ… Tại điểm a khoản 3 Điều 69 của Luật Đất đai quy định Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày. Do vậy, giá đất tính bồi thường phải được thể hiện trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và được xác định tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cùng thời điểm Nhà nước thu hồi đất và phù hợp với nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai.

Mặt khác, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 112, khoản 3 và điểm đ khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; việc định giá đất phải bảo đảm các nguyên tắc phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất. Do vậy, khi tính giá thực tế để bồi thường không sát với giá thị trường như cử tri phản ánh, đề nghị cử tri kiến nghị tới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Về bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 56 của Luật Đất đai thì Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai. Tại Điều 129 của Luật Đất đai đã quy định cụ thể hạn mức giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân. Do vậy, nhằm bảo đảm công bằng giữa những hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất nông nghiệp thì tại khoản 1 Điều 77 của Luật Đất đai đã quy định hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường diện tích trong hạn mức được giao quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai (không tính diện đất nông nghiệp do được thừa kế và nhận chuyển quyền sử dụng đất) và được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai.

Về lập và thực hiện dự án tái định cư

Theo quy định tại Điều 85, Điều 86 của Luật Đất đai và khoản 3 Điều 26 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất; khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền; khu tái định cư được lập cho một hoặc nhiều dự án; nhà ở, đất ở trong khu tái định cư được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư; tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư (nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi).

Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên, trước khi bố trí tái định cư thì người có đất ở thu hồi được xem xét lựa chọn tái định cư phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư; trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất ở nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định.

Về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Hệ thống tổ chức quản lý đất đai và dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai được quy định cụ thể tại Chương II của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Điều 95 của Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do đó, nếu bổ sung thêm một điểm “Quy định cơ quan thực hiện việc đăng ký biến động đất đai” tại Điều này sẽ không phù hợp với nội dung của tiêu đề, cũng như kết cấu của Luật Đất đai năm 2013.

 Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính.” không thể hiện thời điểm lập sổ, nhưng trong quá trình rà soát, hoàn thiện pháp luật cho thấy kể từ ngày 15/10/1993 trở về sau, theo quy định của pháp luật đất đai thì việc đăng ký vào Sổ Địa chính được thực hiện sau khi người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận. Do đó, việc có tên trong Sổ Địa chính kể từ ngày 15/10/1993 trở về sau nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận là do chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 đã được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hơn là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993”  là phản ánh đúng thực trạng giấy tờ về quyền sử dụng đất phù hợp với quá trình quản lý, sử dụng đất.

Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Tại Khoản 3 Điều 101 của Luật Đất đai đã quy định Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã có quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận.

Điều 3 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định về giải thích từ ngữ lấn đất, chiếm đất; không liên quan đến việc quy định sử dụng đất liên tục như cử tri phản ánh. 

Do vậy, việc cử tri kiến nghị thêm từ “liên tục vào một mục đích chính nhất định” sau từ “sử dụng ổn định” là không cần thiết vì từ “sử dụng đất ổn định” được quy định trong Luật Đất đai và cụ thể hóa tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Về việc xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn ao

Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận kiến nghị của cử tri để nghiên cứu, xem xét, đề xuất quy định khi sửa đổi Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành.

Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gấn liền với đất

Tại Điều 105 của Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân chia làm 2 trường hợp: Trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân thì thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận là Ủy ban nhân dân cấp huyện; trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận mà người sử dụng đất thực hiện quyền hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện.

Việc quy định trên là nhằm giảm áp lực cho bộ máy hành chính nhà nước, quy định việc xác lập quyền sử dụng đất lần đầu để bảo hộ cho người sử dụng đất sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung thực hiện, đối với trường hợp người sử dụng đất đã được xác lập quyền sử dụng đất lần đầu sau đó thực hiện các quyền thì cần thiết giao cho cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường và cơ quan dịch vụ công về đăng ký đất đai thực hiện nhằm làm giảm áp lực với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung; đồng thời tăng tính chuyên nghiệp, chuyên môn - kỹ thuật, gắn với hoạt động có hệ thống, thống nhất, quản lý- điều hành tập trung của Văn phòng đăng ký đất đai; từ đó quy trình giải quyết công việc đã được thực hiện thống nhất, gắn với việc xây dựng, cập nhật, chỉnh lý kịp thời hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai; thời gian thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đã giảm so với trước đây, tạo điều kiện thuận lợi cho đình, cá nhân khi tham gia giao dịch về đất đai, tài sản gắn liền với đất.

Để giảm áp lực cấp đổi Giấy chứng nhận, tại khoản 2 Điều 97 Luật Đất đai đã quy định các loại Giấy chứng nhận đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng trước ngày 10 tháng 12 năm 2009 vẫn có giá trị pháp lý và không phải đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; việc cấp đổi thực hiện theo nhu cầu của người sử dụng đất.

Băn khoăn của cử tri đã được nhiều địa phương giải quyết bằng việc ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính. Đối với việc cấp đổi Giấy chứng nhận do “dồn điền đổi thửa” Bộ đang trình Chính phủ xem xét sửa đổi Nghị định thi hành Luật theo hướng chuyển thành cấp lần đầu để đảm bảo thuận lợi hơn trong quá trình thẩm tra cấp Giấy chứng nhận.

Về đính chính thu hồi giấy chứng nhận đã cấp

Về thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật:

Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 không thực hiện đối với trường hợp người cấp Giấy chứng nhận đó đã chuyển giao quyền sử dụng đất sang cho người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013.

Tại Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Do đó, trong trường hợp quy định về thu hồi Giấy chứng nhận do cấp trái pháp luật mà có sự khác nhau giữa Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai với Luật Đất đai thì thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.

Về quy trình thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật:

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai, các điểm a, d, đ khoản 7 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, khoản 56 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP thì việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) không đúng quy định của pháp luật được thực hiện như sau:

Trường hợp có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai khẳng định Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Luật, điểm a khoản 4 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Trường hợp không có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai khẳng định Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai hoặc người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì việc thu hồi Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại khoản 56 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP.

Về căn cứ, thời điểm tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

Về nội dung này, ngày 28 tháng 02 năm 2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư (thay thế Nghị định số 30/2015/NĐ-CP). Tại điểm b khoản 2 Điều 60 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP đã quy định:

“2. Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất; xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà đầu tư trúng thầu:

……….

b) Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh tổ chức xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, báo cáo Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nhà đầu tư phải nộp tại thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.”

Về hạn mức giao đất nông nghiệp

Tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013 quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân như sau:

“1. Hạn mức giao đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau:

a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác.

2. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

3. Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất:

a) Đất rừng phòng hộ;

b) Đất rừng sản xuất.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 héc ta.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm không quá 05 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì hạn mức giao đất rừng sản xuất không quá 25 héc ta.”

Quy định nêu trên là mức tối đa mà một hộ gia đình, cá nhân có thể được giao đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, trên thực tế diện tích còn lại để giao đất cho hộ gia đình, cá nhân theo chính sách giao đất mới hiện nay hầu như không còn. Vì vậy, quy định nêu trên có ý nghĩa để làm căn cứ xác định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Điều 130 của Luật Đất đai năm 2013 và làm căn cứ để tính hạn mức công nhận quyền sử dụng đất.

Đối với trường hợp hộ gia đình cá nhân có nhu cầu tập trung, tích tụ đất đai đầu tư sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có thể nhận chuyển quyền sử dụng đất để có hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất mới diện tích đất cao hơn hoặc thành lập doanh nghiệp hoạt động nông nghiệp và có dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp để không bị giới hạn bởi hạn mức giao đất.

Về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương sáu Khoá XI, Trung ương đã chủ trương thực hiện mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và mở rộng đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa để thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Bên cạnh đó, để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu xây dựng, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp (Tờ trình số 101/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019) và hiện dự thảo Nghị định đang được Chính phủ xem xét để ban hành. Nội dung dự thảo Nghị định này đã đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê đất, liên doanh, liên kết với người sử dụng đất để nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn nhưng vẫn đảm bảo được các quyền và lợi ích của nông dân.

Về đất sử dụng cho khu kinh tế

Kiến nghị của cử tri liên liên quan đến sửa đổi Điều 151 của Luật Đất đai năm 2013. Thời gian vừa qua Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nhận được các kiến nghị của tổ chức, cá nhân, địa phương và doanh nghiệp liên quan đến việc xem xét sửa đổi Điều 151 của Luật Đất đai năm 2013. Vì vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê

Theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 174 Luật Đất đai thì trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp thực hiện dự án kinh doanh nhà ở mà được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng. Theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 174 Luật Đất đai thì trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp thực hiện dự án kinh doanh nhà ở mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng.

Đối với trường hợp tổ chức kinh tế được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất một số năm nhưng tổ chức kinh tế đã nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho thời gian sử dụng đất còn lại vào ngân sách nhà nước thì được thực hiện quyền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất đã nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian sử dụng đất còn lại.

Về quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở Việt Nam

Khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định về pháp luật về quốc tịch” là người sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.

Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Theo quy định khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định “Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam”.

Vì vậy, không cần thiết phải bổ sung quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hai quốc tịch, trong đó có Quốc tịch Việt Nam” để quy định quyền và nghĩa vụ sử dụng đất.

Về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với một phần thửa đất thì người sử dụng đất đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện đo đạc tách thửa đối với phần diện tích cần thực hiện quyền của người sử dụng đất trước khi nộp hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất.

Do đó, đối với các trường hợp tự ý chia thành nhiều thửa đất rồi chuyển nhượng cho nhiều người bằng giấy viết tay là vi phạm pháp luật về đất đai, cần xử lý đúng quy định của Luật Đất đai và Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Đăng ký đất đai là nghĩa vụ bắt buộc của người sử dụng đất. Đăng ký đất đai là cơ sở để Nhà nước bảo hộ các quyền của người sử dụng đất và bảo đảm điều kiện để Nhà nước thực hiện tốt công tác về quản lý đất đai.

Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai quy định “việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Quy định này cũng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai đó là “việc đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý” và khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai là “việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính”.

Khoản 2 Điều 188 Luật Đất đai quy định: “ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật Đất đai”. Nếu việc vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra thuộc các trường hợp quy định cụ thể của các điều nêu trên thì người sử dụng đất không đủ điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Về trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất

Nội dung kiến nghị này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng kết, đánh giá và có báo cáo đề xuất với Trung ương trong quá trình sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Khoá XI. Bộ Chính trị cũng đã có kết luận về chủ trương mở rộng đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp mà hiện nay Luật Đất đai năm 2013 đang quy định như ý kiến cử tri đã nêu.

Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nghiên cứu xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp (Tờ trình số 101/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019). Hiện nay Chính phủ đang xem xét việc ban hành Nghị định. Dự thảo Nghị định này đã đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê đất, liên doanh, liên kết với người sử dụng đất để nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn nhưng vẫn đảm bảo được các quyền và lợi ích của nông dân.

Về hòa giải tranh chấp đất đai

Tại Điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 202 của Luật Đất đai.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo”.

Như vậy, trong trường hợp hai bên hòa giải không thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

Về trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai

Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đất đất đai Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã cần căn cứ vào các quy định của pháp luật có liên quan để xử lý:

 Đối với hành vi vi phạm hành chính thì cần căn cứ quy định của Luật Xử lý vi phạm hành Chính và các văn bản quy định chi tiết thi hành, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; các nghị định về xử lý vi phạm hành chính của các lĩnh vực có liên quan như xây dựng, môi trường khoáng sản... để xử theo thẩm quyền hoặc chuyển vụ việc đến người có thẩm quyền xử lý.

Đối với các vi phạm có dấu hiệu hình sự thì kịp thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục đã được pháp luật quy định.

Bốn là, những bất cập tại các nghị định hướng dẫn Luật Đất đai:

a. Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Tại khoản 3, Điều 30 quy định: “Trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó được chuyển vào Kho bạc Nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho người có quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, thực tế do chưa xác định được đối tượng sử dụng đất nên chưa có cơ sở để tính các mức hỗ trợ, chưa có cơ sở để gửi tiền vào Kho bạc Nhà nước.

Tại khoản 5, Điều 34 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất “Đối với đất sử dụng trước ngày 01/7/2014 mà có nguồn gốc do được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì người có đất thu hồi không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định của Nghị định số 197/2004/NĐ–CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”. Đề nghị quy định cụ thể tại khoản 5, Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về chi phí đầu tư vào đất còn lại (không quy định viện dẫn theo Nghị định số 197/2004/NĐ–CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, vì đã hết hiệu lực).

b. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều Luật Đất đai về đất khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp

Tại khoản 6, Điều 17 quy định “Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì phải dừng cưỡng chế nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành; hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra (nếu có)”. Như vậy, Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP không quy định các trường hợp chưa thực hiện cưỡng chế mà chỉ quy định dừng khi có kết luận thu hồi đất là trái pháp luật. Trên một số lĩnh vực như xử lý vi phạm hành chính thì trong trường hợp người ban hành quyết định cưỡng chế xét thấy việc tổ chức cưỡng chê gây ra hậu quả không thể khăc phục được thì có thể tạm dừng cưỡng chế để giải quyết khiếu nại hoặc trong lĩnh vực thi hành án dân sự thì không cưỡng chế trong thời gian lễ, tết…Đề nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung quy định về trường hợp tạm dừng cưỡng chế và trường hợp chưa tổ chức cưỡng chế.

Thống nhất lại tổng hạn mức đất ở của một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở quy định tại khoản 3, Điều 20 Nghị định này với điểm a, khoản 3, Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.

Tại khoản 3, Điều 22 chỉ quy định vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014, Nghị định không quy định cụ thể việc xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai (lấn, chiếm đất) để không được cấp Giấy chứng nhận như đã quy định tại điểm đ, khoản 4, Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ trước đây; do đó, những hành vi tự tạo lập, khai hoang, thấy đất trống đến dựng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 xảy ra khá nhiều nhưng không quy định thì có xem là hành vi lấn chiếm đất hoặc tự chuyển mục đích sử dụng đất mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép không. Khi cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp này áp dụng theo khoản 1, Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (không nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở) hay khoản 3, Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và phải nộp tiền theo quy định tại khoản 2, Điều 6 Nghị định 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ (nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất).    

 Tại điểm b, khoản 1, Điều 37 sử dụng cụm từ “ký Quyết định hủy Giấy chứng nhận đồng thời cấp lại Giấy chứng nhận” thay cho cụm từ “cấp lại Giấy chứng nhận” và viết lại như sau: “b) Cấp đổi, ký Quyết định hủy Giấy chứng nhận đồng thời cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng”.

Tại khoản 3, Điều 51 đề nghị bổ sung thêm trường hợp khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế thì phải báo cáo “Ban Quản lý khu kinh tế” và viết lại như sau: “3. Hằng năm doanh nghiệp đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Quản lý khu kinh tế và công bố công khai diện tích đất chưa cho thuê, cho thuê lại trong khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp và của địa phương”.

Bổ sung khoản 2, Điều 69 nội dung: “Sau khi thẩm tra đủ điều kiện, Phòng Tài nguyên và Môi trường chuyển hồ sơ đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thực hiện việc trích lục, trích đo thửa đất (đối với chuyển mục đích một phần thửa đất nông nghiệp)”.

Bổ sung Điều 86 một khoản với nội dung: “Trường hợp đính chính Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã cấp trước đây cho hộ gia đình, cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận là Uỷ ban nhân dân tỉnh thì Văn phòng Đăng ký đất đai trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật Đất đai năm 2013 để đính chính Giấy chứng nhận”.

Bổ sung khoản 7, Điều 87 một điểm có nội dung: “Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận, hủy Giấy chứng nhận bị mất của hộ gia đình, cá nhân trước đây do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp, việc thu hồi Giấy chứng nhận thì Văn phòng Đăng ký đất đai trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 thu hồi và việc hủy Giấy chứng nhận thì trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hủy Giấy chứng nhận theo Điều 37 Nghị định số 43; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo qui định, lập danh sách đã bị hủy gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Tổng Cục Quản lý đất đai để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử”.

 d. Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai: Nghị định không giải thích thế nào là hành vi đang thực hiện, hành vi đã kết thúc dẫn đến một số vi phạm như chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện, chuyển mục đích sử dụng đất…thực hiện trước ngày Nghị định số 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà chưa lập biên bản vi phạm hành chính thì rất khó xử lý. Áp dụng Nghị định 91 hay Nghị định 102 để xử lý hành vi trên còn có nhiều ý kiến khác nhau.

e. Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai: Đề nghị hướng dẫn thực hiện điểm a, khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai 2013 “a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm”. Vì, Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lính vực đất đai chưa hướng dẫn nội dung này.

f. Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai

Đề nghị hướng dẫn cụ thể thực hiện khoản 23, Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương về bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất của Văn phòng đăng ký đất đai để quy định việc cho phép Sở Tài nguyên và Môi trường được ủy quyền cho Văn phòng đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này”, để cơ cơ sở thực hiện.

Đề nghị bổ sung thêm thẩm quyền xác nhận lại diện tích đất ở tại khoản 47, Điều 2 là UBND cấp huyện vì hầu hết các Giấy chứng nhận này phải xác định lại theo quy định trước đây thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện. Sau khi UBND huyện xác định lại diện tích đất ở thì cơ quan có thẩm quyền theo Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thực hiện việc cấp đổi Giấy chứng nhận theo quy định. 

g. Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất và Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Đề nghị xem xét điều chỉnh các quy định về kinh phí thuê tư vấn xác định giá đất cho phù hợp với thực tế theo hướng tăng thêm ngân sách Nhà nước dành cho hoạt động thuê tư vấn xác định giá đất cụ thể (không quy định nguồn kinh phí này nằm trong 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án).

Về bất cập Nghị định số 47/2104/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Tại khoản 11 Điều 3 của Luật Đất đai quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Tại khoản 3 Điều 30 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định “Trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó được chuyển vào Kho bạc nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho người có quyền sử dụng đất”. Căn cứ quy định pháp luật nêu trên, trường hợp đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết xong thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc người đang trực tiếp sinh sống, sản xuất trên đất (đối với đất chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất) để chuyển vào Kho bạc nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong. Trường hợp sau khi giải quyết tranh chấp xong mà xác định quyền sử dụng đất không thuộc về người đã được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt lại phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có quyền sử dụng đất theo quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Về đề nghị quy định cụ thể chi phí đầu tư vào đất còn lại tại khoản 5 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP mà không quy định viện dẫn theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, đây là quy định xử lý chuyển tiếp cho phép áp dụng quy định pháp luật trước ngày Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được ban hành để xử lý một số vấn đề cụ thể nên cần chỉ rõ văn bản được áp dụng.

Về vướng mắc trong Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều Luật Đất đai về đất khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp

Về đề nghị bổ sung quy định về trường hợp tạm dừng cưỡng chế và trước hợp chưa tổ chức cưỡng chế:

Kiến nghị của cử tri liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục cưỡng chế thu hồi đất theo hướng quy định chi tiết hơn về một số nội dung. Về thủ tục cưỡng chế thu hồi đất đã được quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 17 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chưa được cụ thể như phản ánh của cử tri. Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật đất đai thòi gian tới.

Về thống nhất lại tổng hạn mức đất ở của một hộ gia đình, cá nhân sửa dụng nhiều thửa đất có nhà: Tại khoản 3 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định:

“3. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.

Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15/10/1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.”

Tại điểm a, khoản 3, Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất quy định:

“a) Giá đất theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định áp dụng trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân được công nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất ở trong hạn mức.

Việc xác định diện tích đất trong hạn mức tại Điểm này phải đảm bảo nguyên tắc mỗi hộ gia đình (bao gồm cả hộ gia đình hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật), cá nhân chỉ được xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở một lần và trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì hộ gia đình, cá nhân đó được cộng dồn diện tích đất của các thửa đất để xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở nhưng tổng diện tích đất lựa chọn không vượt quá hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nơi lựa chọn.

Hộ gia đình, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai diện tích thửa đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở được áp dụng tính thu tiền sử dụng đất; nếu bị phát hiện kê khai gian lận sẽ bị truy thu nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế.”

Theo phân công của Chính phủ thì Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (không bao gồm các quy định về thu tiền sử dụng đất), trên cơ các quy định của Luật Đất đai và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Bộ Tài chính được giao chủ trì xây dựng các Nghị định về thu tiền sử dụng đất. Để giải quyết vướng mắc bất cập nêu trên, cần sửa đổi các quy định về tính thu nghĩa vụ tài chính để phù hợp với quy định của Luật Đất đai về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Về xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai (lấn, chiếm đất) dể không được cấp giấy chứng nhận: Việc xác định người sử dụng đất có hay không có hành vi vi phạm pháp luật đất đai (như tự tạo lập, khai hoang, làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 trên đất trống) cần căn cứ vào thời điểm xảy ra hành vi, quy định pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi cũng như các giấy tờ, sổ sách về quản lý đất đai do cơ quan Nhà nước lập trước thời điểm xảy ra hành vi để xác định cụ thể.

Đối với các hành vi lấn đất, chiếm đất đã được pháp luật về đất đai năm 2013 quy định cụ thể, theo đó: Tại Khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định việc lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

Tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP quy định chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp: (1) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép; (2) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép; (3) Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp); (4) Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các hành vi vi phạm của người sử dụng đất (nếu có), quá trình sử dụng đất và các quy định đã nêu để xem xét thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; đối với trường hợp người sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Về quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37: Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP là quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận khi người sử dụng đất thực hiện các quyền; thẩm quyền cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận. Đối với thủ tục ký Quyết định hủy Giấy chứng nhận đồng thời cấp lại Giấy chứng nhận trong trường hợp bị mất đã được quy định tại Khoản 3 Điều 77 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Về quy định tại khoản 3 Điều 51: Kiến nghị của cử tri liên quan đến Điều 51 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về đất khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, làng nghề. Đây là quy định về đất các khu công nghiệp nói chung, không đề cập đến khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế. Đối với các khu công nghiệp trong khu kinh tế thì thực hiện theo quy định tại Điều 151 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 53 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Về kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 69: Theo quy định tại khoản 10 Điều 18 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì trường hợp chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất thì thực hiện thủ tục tách thửa.

Trường hợp chuyển mục đích một phần thửa đất nông nghiệp như cử tri nêu thì cần thực hiện 02 thủ tục: thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và thủ tục tách thửa đất. Do đó, sau khi cơ quan tài nguyên và môi trường thẩm tra hồ sơ đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất một phần thửa đất thì cần chuyển hồ sơ cho cơ quan đăng ký đất đai để thực hiện thủ tục tách thửa đất.

Về kiến nghị bổ sung Điều 86: Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp khi có sai sót. Do đó, trường hợp đính chính Giấy chứng nhận đã cấp trước đây có sai sót thì cơ quan đính chính Giấy chứng nhận đã cấp là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây để đảm bảo thống nhất cùng một cơ quan thực hiện.

Về kiến nghị bổ sung khoản 7 Điều 87: Về nội dung cử tri đề xuất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu, tiếp thu và bổ sung vào dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, hiện đã trình Chính phủ xem xét ban hành theo hướng: Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận khác cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tại thời điểm thu hồi Giấy chứng nhận. Theo đó đã giải quyết được vấn đề mà cử tri nêu.

Về vướng mắc tại Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai

Việc xác định các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai được xác định là đã kết thúc hoặc đang được thực hiện đã được quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Đối với những hành vi vi phạm hành chính đã được phát hiện trước ngày Nghị định số 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực (đã được lập biên bản) nhưng chưa ban hành quyết định xử phạt thì thực hiện theo quy định tại Điều 42 “Điều khoản chuyển tiếp” tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP.

Về những vướng mắc tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai

Tại điểm a khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 quy định thu hồi đất đối với trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm.

Tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có quy định xử phạt đối với hành vi sử dụng đất không đúng mục đích (các Điều 9, 10, 11, 12).

Như vậy, theo quy định trên đây thì các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm về hành vi này thì Nhà nước thu hồi đất.

Về những vướng mắc tại Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai

Về hướng dẫn cụ thể khoản 23 Điều 2: Theo quy định tại Điều 14 của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì “Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể”.

Theo quy định tại Khoản 23 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai thì “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương về bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất của Văn phòng đăng ký đất đai để quy định việc cho phép Sở Tài nguyên và Môi trường được ủy quyền cho Văn phòng đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” và được sử dụng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì:“Sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm việc theo chế độ thủ trưởng và theo Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ”;

Theo quy định tại khoản 2 và khoản 6 Điều 1 của Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư thì giấy ủy quyền là loại văn bản hành chính và “trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể uỷ quyền cho người đứng đầu một đơn vị trong cơ quan, tổ chức ký thừa uỷ quyền (TUQ.) một số văn bản mà mình phải ký. Việc giao ký thừa uỷ quyền phải được quy định bằng văn bản và giới hạn trong một thời gian nhất định. Người được ký thừa uỷ quyền không được uỷ quyền lại cho người khác ký. Văn bản ký thừa uỷ quyền theo thể thức và đóng dấu của cơ quan, tổ chức uỷ quyền”.

Như vậy, căn cứ các quy định trên đây thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể tại địa phương để quy định việc cho phép Sở Tài nguyên và Môi trường được ủy quyền cho Văn phòng đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận. Theo đó, sau khi có văn bản cho phép ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường phải có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho từng đối tượng được ủy quyền là Giám đốc hay phó Giám đốc Văn phòng hoặc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận mà không thực hiện hình thức tổ chức ủy quyền cho tổ chức. Việc sử dụng con dấu đối với các trường hợp được ủy quyền cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Khoản 23 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP.

Về đề nghị bổ sung thêm thẩm quyền xác nhận lại diện tích đất ở tại khoản 47 Điều 2: Theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 24 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì việc xác định lại diện tích đất ở được thực hiện trong trường hợp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước đây, người sử dụng đất có mà người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này nhưng diện tích đất ở chưa được xác định theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai, khoản 3 Điều 24 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và chưa được xác định lại theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003.

Như vậy, việc xác định lại diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân được thực hiện trên cơ sở hồ sơ, giấy tờ đã có đang được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai. Các trường hợp này đã được cấp giấy chứng nhận lần đầu nên đã một lần được Nhà nước xác lập quyền ban đầu thông qua việc cấp giấy chứng nhận. Do đó, để cải cách thủ tục hành chính, giảm gánh nặng cho bộ máy hành chính địa phương thì việc quy định Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra hồ sơ cấp Giấy trước đây, nếu đủ điều kiện xác định lại diện tích đất ở theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 24 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì trình cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP cấp Giấy chứng nhận là phù hợp.

Về Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất và Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì nội dung chi tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm chi cho công tác xác định giá đất (trong đó có kinh phí thuê tư vấn xác định giá đất). Vì vậy, đề nghị quý cử tri phản ánh với Bộ Tài chính để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.

Năm là, hiện nay, việc xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ tại huyện Nam Trà My đã tác động đến môi trường, nhất là tài nguyên rừng và nguồn nước đầu nguồn. Đề nghị có giải pháp bảo vệ rừng đầu nguồn, đảm bảo nước sinh hoạt, sản xuất và chống nguy cơ sạt lỡ, khô hạn cho người dân huyện Nam Trà My

Việc bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo đảm nước sinh hoạt, sản xuất và chống nguy cơ sạt lở, khô hạn cho người dân hạ lưu các công trình thuỷ điện đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định pháp luật của chủ dự án và sự phối hợp, quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp, môi trường, tài nguyên nước và các cơ quan quản lý các cấp ở địa phương.

Trong lĩnh vực tài nguyên nước, việc cấp phép khai thác, sử dụng nước cho các nhà máy thuỷ điện, bao gồm cả các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ, đã xem xét, yêu cầu chủ dự án phải vận hành công trình bảo đảm xả dòng chảy tối thiểu nhằm bảo đảm nhu cầu nước sinh hoạt, sản xuất của người dân và duy trì dòng chảy trong sông phía hạ du. Ngoài ra, trong giấy phép cũng quy định việc xả gia tăng lưu lượng nước về hạ du khi có yêu cầu (bảo đảm nước sinh hoạt, sản xuất thời kỳ khô hạn…).

Trên thực tế, để tăng cường ý thức tuân thủ và trách nhiệm của các chủ dự án, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đẩy mạnh các hoạt động giám sát, yêu cầu các nhà máy thuỷ điện phải quan trắc, giám sát thường xuyên, liên tục các số liệu vận hành công trình trong đó có lưu lượng dòng chảy tối thiểu xả về hạ du; kết nối, truyền số liệu quan trắc tự động, trực tuyến về Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh và Cục Quản lý tài nguyên nước để bảo đảm tuân thủ các yêu cầu quy định.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan