Thứ 5, 30/06/2022 - 17:48
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Lâm Đồng gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 03 ý kiến của cử tri tỉnh Lâm Đồng do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực đất đai và môi trường.

Một là, cử tri phản ánh theo Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất quy định, khi thu hồi đất cho các dự án, nông dân ngoài việc được nhận tiền bồi thường, còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề với mức tiền không quá 5 lần giá đất. Riêng cán bộ công chức, viên chức, người đã có nghề phi nông nghiệp thì không được khoản này. Đây là quy định rất bất cập, bởi không ít các đối tượng bị thu hồi đất tại nhiều địa phương là cán bộ công tác tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, huyện; giáo viên; cán bộ, nhân viên ngành y tế;…lương thấp, không đủ sống nên ngoài giờ làm việc tại cơ quan, họ phải làm thêm ruộng, vườn để kiếm thêm thu nhập trang trải kinh tế gia đình. Nếu thu hồi đất của những đối tượng này mà lại không được hỗ trợ chuyển đổi nghề, thì hộ gia đình họ bị thiệt thòi. Đề nghị nghiên cứu lại vấn đề này

Theo quy định khoản 1 Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) thì người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm gồm: hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 19 của Nghị định này khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh, của công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp). Đối với hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) vừa có nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đang sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm nêu trên là việc Nhà nước trợ giúp cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển khi bị thu hồi tư liệu sản xuất; đối với cán bộ tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, huyện như cử tri phản ánh thì đang có việc làm ổn định, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên việc hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là không phù hợp. Trường hợp cần thiết nhằm ổn định đời sống, sản xuất đối với người có đất thu hồi thì căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.

Hai là, cử tri phản ánh tại văn bản số 2239/TCMT-KSON ngày 26/12/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thì các trường hợp phát sinh nước thải sinh hoạt từ hoạt động văn phòng, hoạt động phi sản xuất trong các cơ sở sản xuất cũng thuộc đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Hiện nay chưa có văn bản thay thế Văn bản số 2239/TCMT-KSON ngày 26/12/2013. Đề nghị điều chỉnh, bổ sung: Đối với các cơ sở sản xuất không phát sinh nước thải từ hoạt động sản xuất, chỉ phát sinh nước thải sinh hoạt, đề nghị chỉ thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt

Hiện nay, quy định về phí bảo vệ môi trường với nước thải hiện được Chính phủ quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020. Theo đó, tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định: nước thải từ các cơ sở sản xuất, chế biến là nước thải công nghiệp; tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định: việc xác định số phí phải nộp của các cơ sở sản xuất không phát sinh nước thải từ hoạt động sản xuất căn cứ vào các thông số ô nhiễm tính phí được quy định trong hồ sơ môi trường đã được cơ quan quản lý nhà nước về môi trường phê duyệt, xác nhận của cơ sở. Đối với các vướng mắc triển khai, thực hiện Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, đề nghị cử tri có văn bản gửi Bộ Tài chính, cơ quan chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, để xử lý.

Ba là, cử tri phản ánh trong thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ việc các lãnh đạo, cán bộ các cơ quan ban, ngành vi phạm trong việc quản lý đất đai dẫn đến bị xử lý kỷ luật, đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước đối với người dân. Đề nghị, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết đã tìm ra nguyên nhân và giải pháp cụ thể về hành lang pháp lý trong quá trình thực hiện pháp luật để hạn chế, ngăn ngừa vi phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai hay chưa

Nguyên nhân của các vụ việc vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng đất, trong quản lý tài sản công là đất đai, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành xác định trong quá trình đánh giá việc thi hành, thanh tra, kiểm tra, giám sát, trong đó:

Trước hết là do quá trình thực thi pháp luật về đất đai chưa tốt, chưa thực hiện nghiêm tinh thần thượng tôn pháp luật làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài sản công, một số cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, cố ý làm trái pháp luật; giao đất, cho thuê đất thông qua phương thức đấu thầu dự án có sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất có những trường hợp còn chưa tuân thủ quy trình và quy định của pháp luật, nhiều trường hợp chỉ định nhà đầu tư, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, quản lý chuyển đổi mục đích và thực hiện nghĩa vụ tài chính về sử dụng đất của doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở một số nơi bất cập, thiếu minh bạch.

Thứ hai, chính sách pháp luật còn có kẽ hở, có sự chồng chéo, thiếu thống nhất giữa pháp luật về đầu tư, đấu thầu, quản lý tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp và pháp luật đất đai, cơ chế định giá đất theo giá thị trường, hệ thống thông tin giá đất thị trường còn bất cập; quy định về tạo quỹ đất sạch để đấu giá chưa có đủ điều kiện, chế tài để đảm bảo thực thi trong thực tiễn.

Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa chủ động, kịp thời, hiệu quả; các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai, quản lý tài sản công là đất đai, cổ phần hóa doanh nghiệp được phát hiện, xử lý vừa qua phần lớn đã từ nhiều năm trước đây nhưng chưa được kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm; chế tài xử lý vi phạm chưa mạnh, chưa đủ sức răn đe.

Để khắc phục tình trạng nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành liên quan đã tham mưu và thực hiện nhiều giải pháp: 

Tham mưu cho Bộ Chính trị ban hành Kết luận chỉ đạo, Quốc hội ban hành các Nghị quyết giám sát: số 60/2018/QH14 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; số 82/2019/QH14 về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị,…trong đó yêu cầu:

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về đất đai nhất là cơ chế định giá đất đảm bảo khách quan, minh bạch, sát giá thị trường, giá đất được tính đúng, tính đủ giá trị tăng thêm từ các yếu tố lợi thế về vị trí địa lý, do quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đầu tư kết cấu hạ tầng; cơ quan tham mưu xây dựng giá đất độc lập với cơ quan thẩm định giá đất. Hoàn thiện các quyền của người sử dụng đất, chính sách thuế và các công cụ tài chính để tiếp tục phát triển lành mạnh thị trường bất động sản, khắc phục tình trang đầu cơ đất đai. Thực hiện việc giao đất, cho thuê đất chủ yếu theo phương thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Kiểm soát chặt chẽ và công khai, minh bạch trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hoạt động sản xuất và đời sống của người có đất thu hồi. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch, công khai minh bạch trong chuyển mục đích sử dụng đất, sắp xếp các cơ sở nhà đất của các cơ quan nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, nhất là người đứng đầu trong việc để xảy ra sai phạm trong quản lý, sử dụng đất.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, phát hiện xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm nhất là trong việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện quản lý đất đai công khai, minh bạch, hiệu quả. Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai, hồ sơ địa chính hiện đại, phục vụ đa mục tiêu, công khai minh bạch để thực hiện việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai, loại bỏ các hành vi nhũng nhiễu “tham nhũng vặt” trong quá trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính của công chức, viên chức.

Trình Chính phủ ban hành các Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; số 67/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công; số 126/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2017 về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần; số 25/2020/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư; số 96/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2019 quy định về khung giá đất; số 69/2019/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2019 quy định về việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho Nhà đầu tư khi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao; số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 sửa đổi nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để khắc phục ngay các kẽ hở, lỗ hổng trong chính sách pháp luật về định giá đất, giao đất, cho thuê đất, quản lý quy hoạch sử dụng đất, quản lý tài sản công là quyền sử dụng đất, cổ phần hóa doanh nghiệp,…

Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý sử dụng đất đai như: ban hành Quyết định số 1675/QĐ-TTg ngày 29/8/2016 phê duyệt Đề án “Tăng cường xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến 2020”; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện, chỉ đạo đôn đốc kiểm tra rà soát các dự án, công trình không triển khai hoặc chậm đưa đất vào sử dụng, các dự án khu đô thị, khu du lịch nghỉ dưỡng có quy mô sử dụng đất lớn. Chỉ đạo toàn ngành từ 2017 - 2019 đã tiến hành 6.497 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với 20.709 tổ chức; qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi 16.928 ha đất, xử phạt vi phạm, truy thu 368 tỷ đồng.

Về xử lý tình trạng “tham nhũng vặt” trong thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi bổ sung các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Trong đó, đã quy định rõ các thành phần hồ sơ, đơn giản các giấy tờ trung gian để loại bỏ tình trạng nhũng nhiễu trong xác nhận các loại giấy tờ ở cấp cơ sở; rút ngắn 1/2-1/3 thời gian thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận; bổ sung chế tài xử lý nghiêm các hành vi chậm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận của các chủ đầu tư,…Từ năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo thiết lập các đường dây nóng từ Trung ương đến các Sở Tài nguyên và Môi trường để tiếp nhận phản ánh của Nhân dân về các hành vi nhũng nhiều trong thực thi công vụ. Lập tổ công tác của Bộ trưởng để xem xét, xử lý các phản ánh đồng thời hướng dẫn tháo gỡ các vướng mắc khó khăn. Đến nay, qua khảo sát của các tổ chức độc lập, tỷ lệ người dân phản ánh có nhũng nhiễu, phải “bôi trơn” trong thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đã giảm 34% so với năm 2015 và tỷ lệ hài lòng về dịch vụ này tăng 13% so với năm 2016.

Về các giải pháp trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ ngành sẽ tập trung tham mưu, triển khai thực hiện:

Tổng kết việc thực hiện nghị quyết 19/NQ-TW của Trung ương về đất đai, tổng kết việc thi hành luật đất đai 2013 một cách toàn diện, để sửa đổi toàn diện luật đất đai, đổi mới chính sách tài chính về đất đai và hoàn thiện các phương pháp xác định giá đất bảo đảm khách quan, minh bạch, phù hợp với giá thị trường; xây dựng hệ thống dữ liệu giá đất thị trường để có dữ liệu chính xác cho xác định giá đất; hoàn thiện hoàn thiện cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư. Thực hiện việc giao đất, cho thuê đất chủ yếu theo phương thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quy hoạch, kế hoạch, công khai minh bạch trong chuyển mục đích sử dụng đất, sắp xếp các cơ sở nhà đất của các cơ quan nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Xử lý giải quyết hiệu quả tình trạng đầu cơ, không đưa đất vào sử dụng để hoang hóa, chậm tiến độ sử dụng thông qua các biện pháp kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường (thuế lũy tiến), bên cạnh các biện pháp hành chính như quy định hiện hành. Phát triển lành mạnh thị trường bất động sản. Thực hiện phân cấp thẩm quyền gắn với thể chế hóa trách nhiệm của từng cấp; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý, sử dụng đất, vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và Nhân dân trong quản lý và sử dụng đất đai…

Tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm; công khai minh bạch trong công tác quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư và trong công tác định giá đất, tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát.

Tiếp tục thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính chính, tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra công vụ; tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, hệ thống thông tin đất đai, cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai cho người dân doanh, nghiệp, thiết lập hệ thống theo dõi, đánh giá trong quản lý sử dụng đất từ Trung ương tới địa phương, của người dân, doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ công, duy trì có hiệu qua các đường dây nóng, loại trừ tham nhũng vặt trong lĩnh vực đất đai.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan