Thứ 7, 25/06/2022 - 17:38
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Tĩnh gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 07 ý kiến của cử tri tỉnh Hà Tĩnh do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Một là, xem xét, bổ sung một số nội dung trong Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 như: Quy định việc lựa chọn tổ chức, cá nhân để cấp Giấy phép khai thác khoáng sản ở khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản; quy định việc điều chỉnh đưa các mỏ khoáng sản giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác đã hết hạn ra khỏi khu vực đã được khoanh định không đấu giá quyền khai thác khoáng sản

Điều 53 Luật Khoáng sản năm 2010 quy định về nguyên tắc và điều kiện để cấp Giấy phép khai thác khoáng sản. Đối với kiến nghị bổ sung quy định việc lựa chọn tổ chức, cá nhân để cấp Giấy phép khai thác khoáng sản ở khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản trong Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận và tiếp thu, nghiên cứu để điều chỉnh, bổ sung trong thời gian tới.

Về nội dung điều chỉnh để đưa các mỏ khoáng sản đã hết hạn giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác ra khỏi khu vực đã được khoanh định không đấu giá quyền khai thác khoáng sản: theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 22 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP các khu vực hoạt động khoáng sản đã được cấp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản là một trong các tiêu chí để khoanh định là khu vực không đấu giá quyền khai thác thác khoáng sản. Về thẩm quyền khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản thực hiện theo quy định tại Điều 78 Luật khoáng sản và khoản 2 Điều 22 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP. 

Hai là, sửa đổi điểm d khoản 3 Điều 16 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước theo hướng tính lưu lượng nước thải của hoạt động nuôi trồng thủy sản theo Vụ hoặc hạ mức quy định lưu lượng xả nước thải không phải xin phép để phù hợp với tình hình thực tế

Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 16 của Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, hoạt động xả nước thải nuôi trồng thủy sản với quy mô không vượt quá 10.000 m3/ngày đêm hoặc nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, suối, hồ chứa không phải xin phép xả nước thải vào nguồn nước. Các trường hợp còn lại phải thực hiện việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước theo quy định.

Việc quy định lưu lượng nước thải của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản theo đơn vị m3/ngày đêm (thay vì m3/vụ nuôi) là phù hợp, nhằm đồng bộ đơn vị lưu lượng nước thải từ các nguồn thải, các loại hình sản xuất khác nhau cùng xả vào nguồn nước tiếp nhận, tạo thuận lợi trong việc quản lý hoạt động xả nước thải trong cùng một khu vực. Với đặc thù hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (lấy nước, xả thải theo vụ nuôi), theo quy định, trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước có yêu cầu nêu rõ chế độ xả thải (chu kỳ xả, thời gian trong một chu kỳ, xả theo mùa vụ sản xuất…).

Vào thời điểm xây dựng Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, mức lưu lượng xả nước thải không phải xin phép đối với hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (từ 10.000 m3/ngày đêm trở xuống) được xác định căn cứ vào tình hình hoạt động, xả nước thải của các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản trên toàn quốc với mục tiêu quản lý được các nguồn xả thải lớn, không gia tăng thủ tục hành chính đối với các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản quy mô nhỏ. Nội dung đề nghị của cử tri Hà Tĩnh sẽ được xem xét, nghiên cứu khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 201/2013/NĐ-CP.

Ba là, đề nghị Bộ Tài nguyên Môi trường bổ sung quy định, hướng dẫn về hồ sơ đăng ký khối lượng khoáng sản (đất san lấp, đất sét) thu hồi từ dự án thi công mặt bằng, dự án nạo vét kênh, mương, hồ đập,... để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện

Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về hồ sơ đăng ký khối lượng khoáng sản (đất san lấp, đất sét) thu hồi từ dự án thi công mặt bằng, dự án nạo vét kênh, mương, hồ đập,… Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận ý kiến nêu trên của cử tri để tổng hợp sửa đổi, bổ sung trong Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012, dự kiến trình Chính phủ xem xét, ban hành trong tháng 10/2020 .

Tuy nhiên, với khoáng sản (đất san lấp, đất sét) thu hồi từ dự án thi công mặt bằng, dự án nạo vét kênh, mương, hồ đập nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 64 Luật khoáng sản năm 2010 thì việc đăng ký khu vực, công suất, khối lượng, phương pháp, thiết bị và kế hoạch khai thác thực hiện theo theo Điều 53 Nghị định 158/2016/NĐ-CP; nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 65 Luật khoáng sản thì trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 54 và Điều 63 Nghị định 158/2016/NĐ-CP.

Bốn là, đề nghị phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét quy định về việc chuyển đổi cổ đông trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của các đơn vị khai thác khoáng sản, tránh trường hợp mua bán mỏ không qua hình thức chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản

Nội dung kiến nghị nêu trên của cử tri liên quan đến quy định của pháp luật về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Hiện nay, pháp luật không cấm việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nếu đủ điều kiện theo quy định, do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan phải tăng cường kiểm tra, giám sát, đảm bảo các tổ chức/cá nhân được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Năm là. đề nghị hướng dẫn cụ thể về đối tượng, thẩm quyền, trách nhiệm, quy trình, cách thức xử lý, cách xác định giá khởi điểm để đấu giá trong việc xử lý khoáng sản dôi dư thu hồi được khi thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình mà không phải do cấp có thẩm quyền cấp phép khai thác

Theo quy định của pháp luật về khoáng sản, việc thu hồi khoáng sản ở khu vực có dự án đầu tư xây dựng công trình phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép quy định tại Điều 82 của Luật khoáng sản quyết định. Đối với kiến nghị nêu trên của cử tri tỉnh Hà Tĩnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận, tiếp thu để sửa đổi, bổ sung trong Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012 của Chính phủ..

Sáu là, đề nghị kiểm soát chặt chẽ tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cơ sở chế biến thực phẩm và quan tâm đầu tư các nhà máy xử lý rác thải với quy trình khép kín

Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng loạt các biện pháp để giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm môi trường từ việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, thanh tra, kiểm tra, tăng cường hoạt động giám sát trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn diễn ra và chậm được khắc phục tại một số nơi như kiến nghị của cử tri. Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp cùng các Bộ, ngành, địa phương thực hiện các giải pháp tổng thể nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm nêu trên, cụ thể:

Xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi nhằm hạn chế, khắc phục các hạn chế, bất cập trong quy định của Luật bảo vệ môi trường hiện hành và các Luật có liên quan, kịp thời điều chỉnh các vấn đề quản lý mới phát sinh. Rà soát lại toàn bộ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, tiến hành sửa đổi các quy chuẩn bảo đảm tiệm cận với quy chuẩn của các nước tiên tiến, trên cơ sở đó xem xét ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường, đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật của địa phương phải cao hơn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với toàn bộ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các khu xử lý rác thải, bãi chôn lấp, các nguồn thải lớn có xả thải ra các lưu vực sông và các sông nhánh; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, kể cả biện pháp đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa.

Tiến hành phân vùng để áp dụng công nghệ xử lý tích hợp đối với từng nguồn nước. Với những nguồn nước đã và đang bị ô nhiễm, sớm nghiên cứu, áp dụng công nghệ cải tạo phù hợp. Bên cạnh đó, phải chú trọng công tác xử lý tại nguồn thông qua việc triển khai thực hiện tốt quy định về hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tại các đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu dân cư nông thôn tập trung.

Tăng cường nghiên cứu, áp dụng các công nghệ, biện pháp xử lý chất thải rắn tiên tiến. Song song với đó cần chú trọng nâng cao ý thức cho người dân về phân loại chất thải rắn tại nguồn, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn.

Không cho phép các dự án đầu tư chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, biện pháp quản lý chất thải rắn đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường đi vào hoạt động; các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có xả thải ra nguồn nước phải đảm bảo xử lý nước thải theo quy định. Kiểm soát chặt chẽ việc thẩm định, cấp phép xả nước thải vào nguồn nước.

Thực hiện lộ trình đưa các cơ sở sản xuất trong làng nghề di dời vào các cụm công nghiệp để có thể tập trung thu gom và xử lý chất thải. Có biện pháp kiểm soát chặt chẽ nước thải, chất thải trong sản xuất nông nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm nguồn tại khu vực nông thôn.

Bảy là, xem xét, có hướng dẫn cụ thể về nguồn kinh phí để chi trả tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Đất đai trong các trường hợp: Việc chậm trả do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng; Việc chậm trả do trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì Bộ, ngành có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội; chấp thuận, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ nhưng do Bộ, ngành thực hiện và các dự án do Bộ, ngành làm chủ đầu tư; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; trường hợp chủ đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì có trách nhiệm bảo đảm kinh phí thực hiện các dự án không thuộc trường hợp quy định tại nêu trên.

Do vậy, trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì nguồn thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả cho người có đất thu hồi theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật Đất đai do cơ quan có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan