Thứ 5, 18/08/2022 - 03:18
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Nam gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 30 ý kiến của cử tri tỉnh An Giang do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến, chủ yếu liên quan đến kiến nghị sửa đổi các quy định về đất đai.

Về khái niệm doanh nghiệp liên doanh: Trong Luật Đất đai (Điều 5) có đề cập đến doanh nghiệp liên doanh nhưng chưa có khái niệm cụ thể; trong khi Luật Doanh nghiệp lại không có khái niệm về doanh nghiệp liên doanh. Đề nghị sửa đổi để thống nhất giữa các Luật

Quy định tại khoản 7 Điều 5 Luật Đất đai là hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật Đầu tư năm 2005. Hiện Luật Đầu tư đã được sửa đổi toàn diện 02 lần (Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2020), trong đó quy định về giải thích thuật ngữ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi. Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận kiến nghị của cử tri và sẽ phối hợp với bộ, ngành có liên quan để rà soát và đề xuất trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai.

Về hình thức giao đất, cho thuê đất đối với dự án có sử dụng đất: Giữa Luật Đất đai với Luật Đấu thầu đang có sự chưa thống nhất về hình thức giao đất, cho thuê đất đối với các dự án có sử dụng đất. Luật Đất đai quy định rõ các trường hợp giao đất, cho thuê đất phải đấu giá quyền sử dụng đất; các trường hợp không phải đấu giá quyền sử dụng đất nhưng Luật Đấu thầu có quy định việc sử dụng đất thông qua lựa chọn nhà đầu tư. Đề nghị sửa đổi, quy định chi tiết, cụ thể làm căn cứ để thực hiện cho thống nhất

Vấn đề này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Chính phủ và đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư. Tại điểm a khoản 2 Điều 60 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP đã quy định:

“2. Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất; xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà đầu tư trúng thầu:

a) Sau khi hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu đất thực hiện dự án, việc giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư áp dụng theo trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất quy định tại khoản 3 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).”

Khi thu hồi đất: Luật Đất đai quy định nước thu hồi đất đối với các trường hợp cụ thể tại Điều 61, Điều 62 nhưng Luật Đấu thầu lại quy định sau khi có kết quả đấu thầu dự án có sử dụng đất thì nhà nước thực hiện việc thu hồi đất. Do vậy trên thực tế xảy ra tình trạng sau khi có kết quả trúng thầu dự án có sử dụng đất nhưng không thể thực hiện việc thu hồi đất được vì không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 61, Điều 62 Luật Đất đai. Đề nghị sửa đổi Luật để thống nhất, phù hợp giữa các luật

Đối với vấn đề cử tri nêu, đã được quy định cụ thể trong tại Điều 11 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày ngày 28 tháng 02 năm 2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, trong đó quy định điều điều kiện xác định dự án đầu tư có sử dụng đất là phải thuộc thuộc danh mục dự án cần thu hồi đất được duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc khu đất do Nhà nước đang quản lý, sử dụng; chương trình phát triển đô thị (nếu có) theo quy định của pháp luật về phát triển đô thị.  Như vậy, pháp luật về đất đai và pháp luật về đấu thầu đã có sự thống nhất, đề nghị cử tri giám sát việc thực hiện.

Xem xét đề nghị bổ sung trường hợp khai thác khoáng sản thông thường thuộc trường hợp thu nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế -xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng vào điều 62 Luật Đất đai vì như quy định hiện nay doanh nghiệp khi đã được cấp phép khai thác khoáng sản nhưng sẽ không thể khai thác khoáng sản được vì: không làm thủ tục thuê đất được do không giải phóng mặt bằng. Đề nghị bổ sug trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường vào Khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai

Về vấn đề thu hồi đất đối với dự án khai thác khoáng sản đã được đưa ra thảo luận khi trình Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2013. Theo quy định hiện hành thì nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản. Vấn đề cử tri nêu sẽ tiếp tục nghiên cứu xem xét trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai năm 2013.

Khi cho thuê đất: Giấy phép khai thác khoáng sản là một trong những căn cứ để cho thuê đất. Thực tế hiện nay khi doanh nghiệp đã được cấp phép khai thác khoáng sản (đặc biệt là đấu giá quyền khai thác khoáng sản) nhưng lại không thể làm thủ tục cho thuê đất vì không giải phóng được mặt bằng. Như vậy từ khi doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản đến khi được nhà nước cho thuê đất để được khai thác khoáng sản phải mất một thời gian khá dài, thậm chí không thể khai thác được vì không thể giải phóng mặt bằng. Trong khi đó doanh nghiệp vẫn phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của luật Khoáng sản. Đề nghị sửa đổi luật Khoáng sản năm 2010 sao cho trước khi cấp phép khai thác khoáng sản thì diện tích đó phải đất sạch (đất đã được giải phóng mặt bằng)

Pháp luật về khoáng sản hiện hành không quy định việc giải phóng mặt bằng trước khi cấp phép khai thác (kể cả thông qua hình thức đấu giá quyền khai thác khoáng sản). Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận và tiếp thu ý kiến nêu trên của cử tri và báo cáo Chính phủ, Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản năm 2010 để đồng bộ với Luật Đất đai.

Luật Đất đai quy định, một trong những căn cứ để thẩm định nhu cầu sử dụng đất là dự án đầu tư được chấp thuận. Luật Đầu tư lại không quy định nội dung này. Vì vậy khi dự án đầu tư đã được chấp thuận rồi mới thẩm định nhu cầu sử dụng đất là không phù hợp với thực tế. Cần có quy định thẩm định trước khi dự án được chấp thuận. Mặt khác hiện nay chưa có quy định cụ thể về định mức sử dụng đất đối với từng mục đích sử dụng nên rất khó khăn

Theo quy định tại Điều 33 Luật Đầu tư năm 2014, khoản 4 Điều 14 và khoản 1 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Điều 7 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT và Điều 9 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT thì việc thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai được thực hiện đồng thời với thủ tục cấp quyết định chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư, trong đó có nội dung đánh giá về sự phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp không có cơ sở đánh giá nhu cầu sử dụng đất thực hiện dự án so với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì vấn đề này phải được ghi rõ trong văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất làm cơ sở để cơ quan đăng ký đầu tư quyết định việc cấp quyết định chủ trương đầu tư.

Theo quy định tại Điều 58 Luật Đất đai và khoản 2 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT và Điều 9 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT đã quy định rõ việc xin phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang mục đích khác phải thực hiện trước thời điểm Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT thì việc thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất do cơ quan tài nguyên và môi trường chủ trì, trường hợp hồ sơ dự án đầu tư do cơ quan đăng ký đầu tư chuyển đến chưa đủ thông tin thì có thể tổ chức họp mời các cơ quan, tổ chức có liên quan góp ý hoặc lấy ý kiến bằng văn bản hoặc kiểm tra thực địa để làm cơ sở ban hành văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Về quy định cụ thể về định mức sử dụng đất đối với từng mục đích sử dụng, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận để xem xét trong quá trình tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2013 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai trong thời gian tới.

Trường hợp hộ gia đình cá nhân xin chuyển mục đích đất trồng lúa (trong đó có đất trồng lúa trong cùng thửa đất với đất ở hoặc đất trồng lúa trong khu dân cư), đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang đất ở hoặc từ đất rừng sản xuất (Luật Lâm nghiệp) sang đất ở thì có phải lập dự án không. Nếu có thì cấp nào thẩm định. Đề nghị bổ sung quy định rõ nội dung này (Điều 14 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Khoản 11 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP chưa đề cập tới nội dung này

Theo quy định tại Điều 57 Luật Đất đai và khoản 11 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP thì hộ gia đình cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa (trong đó có đất trồng lúa trong cùng thửa đất với đất ở hoặc đất trồng lúa trong khu dân cư), đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất sang đất ở mà không quy định bắt buộc phải lập dự án đầu tư; trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang mục đích khác mà thực hiện dự án đầu tư thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật đất đai. Việc chuyển mục đích nêu trên cần phải đảm bảo phù hợp với Điều 52 Luật Đất đai, pháp luật về nhà ở và pháp luật khác có liên quan.

Điều 54 Luật Đất đai chỉ có quy định việc giao đất nông nghiệp cho cộng đồng dân cư mà chưa quy định việc giao đất tín ngưỡng, cho cộng đồng dân cư. Các Điều 55, 56 Luật đất đai không đề cập đến nội dung này. Trong khi Điều 169 lại quy định cộng đồng dân cư được sử dụng đất thông qua việc nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất. Vậy khi cộng đồng dân cư có nhu cáu sử dụng đất thì việc giao đất tín ngưỡng cho cộng đồng dân cư theo hình thức nào? Đề nghị bổ sung hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất tín ngưỡng cho cộng đồng dân cư vào Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

Chính sách, pháp luật đất đai hiện nay không giao đất tín ngưỡng mới cho cộng đồng dân cư mà chỉ thực hiện công nhận quyền sử dụng hiện có do cộng đồng dân cư đang sử dụng. Tại điểm g khoản 1 Điều 169 của Luật Đất đai năm 2013 quy định cộng đồng dân cư được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất là áp dụng đối với trường hợp “Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc;” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 131 của Luật Đất đai năm 2013.

Tại Điểm a khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai chưa quy định việc chuyển mục đích sử dụng đất đối với đối tượng sử dụng đất (Điều 5) là cơ sở tôn giáo. Đề nghị bổ sung nội dung này

Theo quy định tại Điều 54 và Điều 159 Luật Đất đai thì nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng cơ sở tôn giáo. Theo quy định tại Điều 5 của Luật Đất đai thì cơ sở tôn giáo không phải là tổ chức, do vậy cơ sở tôn giáo không thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai.

Về chế độ sử dụng đất cơ sở tôn giáo, tại Điều 159 Luật Đất đai quy định: Đất cơ sở tôn giáo (đất chùa) nếu được Nhà nước cho phép hoạt động, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo sử dụng đất vào mục xây dựng chùa. Việc sử dụng đất vào mục đích xây dựng chùa phải đúng với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường. Do đó, việc xác định quy mô diện tích, địa điểm, vị trí để xây dựng chùa đã được kiểm soát thông qua dự án đầu tư, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng,...

Như quy định hiện nay thì muốn tạo sẵn quỹ đất sạch để thu hút đầu tư hoặc tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất thì không thực hiện được vì muốn thu hồi đất phải lập dự án. Đề nghị sửa đổi nội dung Điều 62, Điều 63 Luật Đất đai để thu hồi đất theo quy hoạch hoặc bổ sung nội dung trên vào Nghị định 43/2014/NĐ-CP

Vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận để xem xét trong quá trình tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2013 để sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai trong thời gian tới.

Điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành” sẽ bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật Đất đai.  Tại khoản 2 Điều 64 lại quy định:“Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai”.  Tuy nhiên tại Điều 15a Nghị định số 43/2014/NĐ-CP  ngày 15/5/2014 của Chính phủ (được bổ sung tại khoản 13 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017) lại quy định:“Việc thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai được thực hiện trong trường hợp người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật mà đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không chấp hành.” Thực tế khi cơ quan thuế xử lý cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính, pháp luật không có quy định phải có văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm về người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành. Đề nghị sửa đổi lại cho phù hợp với thực tế để có thể thực hiện được đối với trường hợp này

Tại Điều 15a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được bổ sung theo Điều 15a theo quy định tại Khoản 13 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) đã quy định “Việc thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước quy định tại điểm g khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai được thực hiện trong trường hợp người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật mà đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không chấp hành.”

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”. Do đó, đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã bị xử lý theo quy định của pháp luật về tài chính nên Nghị định số 91/2019/NĐ-CP không quy định xử phạt đối với hành vi này.

Tại Điều 69 Luật Đất đai (điểm a khoản 2, điểm a khoản 3): Hiện nay thì không quy định phải công khai phương án bồi thường sau khi đã phê duyệt; quyết định thu hồi đất phải ban hành cùng ngày với quyết định phê duyệt phương án. Thực tế điều này rất bất lợi vì: người dân sẽ không biết chính xác việc bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất; nếu cấp tỉnh ủy quyền cho cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đối với trường hợp cấp tỉnh thu hồi đất thì sẽ không thể thực hiện ban hành cùng ngày quyết định thu hồi đất với quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ. Đề nghị sửa đổi quy định này theo hướng: phải công khai quyết định phương án đã được phê duyệt; Sau khi có quyết định thu hồi của cấp tỉnh, trong thời gian không quá 05 ngày, Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ (nếu được ủy quyền)

Tại điểm b khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai đã quy định như sau: “Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;”.

Đề nghị các địa phương cần tăng cường nâng cao việc áp dụng Chính phủ điện tử để giải quyết các thủ tục hành chính nhằm đảm bảo việc ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai.

Luật Đất đai có quy định cụ thể các trường hợp phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, nhưng lại không có quy định về hồ sơ dự án được lập trước hay sau khi thực hiện đấu giá và cơ quan nào thực hiện lập quy hoạch chi tiết khu đấu giá, xác định tổng mức đầu tư dự án để có thông tin lập phương án đấu giá và làm cơ sở thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất trước khi khi tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Cần bổ sung quy định nội dung này vào nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Pháp luật đất đai chỉ quy định về việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất do đó, tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP đã quy định: Căn cứ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được phê duyệt và đề xuất của các đơn vị về việc đấu giá quỹ đất hiện có, Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các đơn vị đang được giao quản lý quỹ đất quy định lập phương án đấu giá quyền sử dụng đất trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt. Phương án đấu giá quyền sử dụng đất bao gồm những nội dung chính sau: Danh mục loại đất, vị trí, diện tích và hạ tầng kỹ thuật, tài sản gắn liền với các thửa đất đấu giá (nếu có); mục đích, hình thức (giao đất hoặc cho thuê đất), thời hạn sử dụng của các thửa đất khi đấu giá quyền sử dụng đất; Dự kiến thời gian tổ chức thực hiện đấu giá các thửa đất; Đối tượng và điều kiện được tham gia đấu giá; mức phí tham gia đấu giá và khoản tiền đặt trước phải nộp khi tham gia đấu giá; Hình thức đấu giá được áp dụng khi thực hiện cuộc bán đấu giá; Kinh phí, nguồn chi phí tổ chức thực hiện việc đấu giá; Dự kiến giá trị thu được và đề xuất việc sử dụng nguồn thu từ kết quả đấu giá; Phương thức lựa chọn đơn vị thực hiện cuộc bán đấu giá (đấu thầu rộng rãi hoặc giao đơn vị cụ thể thực hiện) hoặc đề xuất thành lập Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp đặc biệt (đối với trường hợp được thành lập Hội đồng đấu giá đặc biệt theo quy định); Đề xuất đơn vị được giao tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất.

Đối với các vấn đề liên quan đến lập dự án đầu tư, lập quy hoạch chi tiết khu đất đấu giá, xác định tổng mức đầu tư dự án được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện khi tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất cần chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền tại địa phương áp dụng các quy định của Luật Đất đai và pháp luật chuyên ngành có liên quan để tổ chức thực hiện.

Các điều có liên quan đến nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh (Điều 7, Khoản 2; Điều 8, Khoản 1, Khoản 2; Điều 9, Khoản 1, khoản 3) của Nghị định số 43/2004/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Hiện nay Luật Quy hoạch số: 35/2018/QH14 đã được ban hành và có hiệu lực. Đề nghị bỏ nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.

Hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ xem xét ký ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai trong đó đã sửa đổi các quy định liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phù hợp với quy định của pháp luật về quy hoạch nói chung.

Điều 16 Nghị định số 43/2004/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Trường hợp thực hiện dự án đầu tư thuộc diện thỏa thuận để được sử dụng đất  (không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất) nhưng chỉ thỏa thuận được 1 phần, còn một phần không thỏa thuận được thì dự án không thể thực thi. Mặt khác giá đất thoả thuận thường rất cao so với giá đất khi nhà nước thu hồi đất nên gây khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng đối với dự án thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất. Hiện nay không có quy định để xử lý đối với trường hợp này, dẫn đến việc nhà đầu tư không thực hiện được dự án, gây lãng phí đất đai. Cần quy định khi đã thỏa thuận được bao nhiêu % diện tích thì đối với phần còn lại chưa thỏa thuận được cần có sự can thiệp của nhà nước thì dự án mới khả thi.

Về vấn đề cử tri nêu đã được Quốc hội thảo luận kỹ lưỡng khi thông qua Luật Đất đai năm 2013, đối với trường hợp chủ đầu tư thực hiện theo cơ chế thỏa thuận tại Điều 73 của Luật Đất đai năm 2013 thì chủ đầu tư phải tự chịu trách nhiệm, trong trường hợp này nhà nước không can thiệp vào quá trình thỏa thuận. Quá trình sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2013 Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ nghiên cứu các cơ chế giải quyết phù hợp.

Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Lấy ý kiến của người từng cư trú với người đang sử dụng đất để xác định thời điểm sử dụng đất là không chính xác vì nể nang, vì quan hệ làng xóm, láng giềng nên dễ dẫn đến việc xác nhận có lợi cho người sử dụng đất, dễ gây bất bình. Đề nghị nên xem xét bỏ nội dung này

Việc xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định vào một mục đích nhất định là hết sức quan trọng. Việc xác định trên là một trong những căn cứ để xem xét người sử dụng đất có đủ hay không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận, việc nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nếu có). Tuy nhiên, việc quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta trải qua nhiều thời kỳ, nhiều khu vực có các phương thức quản lý, thiết lập khác nhau, đồng thời kinh phí đầu tư để lập hồ sơ địa chính của các địa phương gặp nhiều khó khăn, một số địa phương buông lỏng trong công tác quản lý nên không phải tất cả các trường hợp đều có giấy tờ để xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất. Do đó, đối với trường hợp không có bất cứ giấy tờ nào quy định tại khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì mới phải lấy ý kiến những người từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư nơi có đất thì mới có cơ sở giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận. Đây là quy định tối ưu của pháp luật để giải quyết các trường hợp không có các loại giấy tờ nhằm xác định thời điểm sử dụng đất. Việc đề xuất bỏ quy định này sẽ dẫn đến không có cơ sở giải quyết cấp Giấy chứng nhận đối với các trường hợp không có bất cứ giấy tờ nào xác định thời điểm sử dụng đất, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất. Do đó, không nên xem xét bỏ nội dung này.

Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Nếu quy định như hiện nay, người sử dụng đất mà có giấy tờ liên quan đến việc sử dụng đất do người đứng đầu điểm dân cư cấp thì được coi là sử dụng đất. Điều này rất khó xác định, không công bằng vì Người đứng đấu điểm dân cư khi ký không có dấu để làm căn cứ. Đề nghị sửa đổi theo hướng bỏ nội dung công nhận giấy tờ do người đứng đầu điểm dân cư xác nhận

Khoản 1 Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định các trường hợp giao đất trái thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân. Trên thực tế, tại nhiều địa phương trước đây người đứng đầu điểm dân cư đã thực hiện việc giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định đến nay. Vì vậy, việc công nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định do được giao đất trái thẩm quyền nhằm bảo hộ quyền của người sử dụng đất và để nhà nước có cơ quản lý đất được chặt chẽ. Do đó, việc quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP là phù hợp.

Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Quy định như hiện nay là chưa thống nhất bởi như thế mỗi địa phương sẽ có cách làm khác nhau. Cần quy định thống nhất chỉ do một cơ quan làm (hoặc là sở Tài nguyên và Môi trường hoặc là Uỷ ban nhân dân cấp huyện). Đề nghị sửa đổi theo hướng quy định bắt buộc việc thành lập văn phòng đăng ký đất đai và trong trường hợp này sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thực hiện khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của người sử dụng đất, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hai trường hợp: Địa phương đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai và địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai.

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, đồng thời tại khoản 5 Điều 5 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì Văn phòng đăng ký đất đai phải được thành lập hoặc tổ chức lại trước ngày 31/12/2015. Trong thời gian chưa thành lập hoặc tổ chức lại các tổ chức theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 5 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã thành lập được tiếp tục hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã được giao.

Do đó, quy định trên để các địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai có thời gian chuẩn bị các điều kiện để thành lập hoặc tổ chức lại trước ngày 31/12/2015, đây là quy định pháp luật bắt buộc.

Để giải quyết vấn đề mà cử tri nêu, bên cạnh việc chỉ đạo đôn đốc của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đề nghị cử tri tăng cường giám sát đối với các địa phương chưa thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai.

Khoản 3 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Chưa quy định rõ việc giao đất cho các dự án có sử dụng đất theo quy định của Luật Đấu thầu thì thực hiện như thế nào? Đề nghị cần quy định theo hướng chủ đầu tư được giao đất không thông qua đấu giá để quản lý và đầu tư xây dựng đối phần hạ tầng kỹ thuật. Sau khi xây dựng xong hạ tầng kỹ thuật thì bàn giao lại cho Nhà nước để thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất. Chỉ có như vậy thì tài sản nhà nước (quỹ đất) mới phát huy được giá trị sinh lời cao nhất của quỹ đất

Vấn đề này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Chính phủ và đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư, trong đó điểm a khoản 2 Điều 60 Nghị định số 25/2020/NĐ-CP đã quy định:

“2. Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất; xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với nhà đầu tư trúng thầu:

a) Sau khi hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu đất thực hiện dự án, việc giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư áp dụng theo trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất quy định tại khoản 3 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).”

Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Chưa quy định trình tự, thủ tục để ban hành quyết định việc cho phép chuyển từ thuê đất trả tiền hàng năm sang thuê đất trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê hoặc từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất. Cơ quan nào tham mưu (phòng chuyên môn của sở Tài nguyên và Môi trường hay là văn phòng Đăng ký đất đai). Vì trong trường hợp này nhất định phải trình cấp có thẩm quyền để ra quyết định. Đề nghị bổ sung trình tự, thủ tục quyết định việc cho phép chuyển từ thuê đất trả tiền hàng năm sang thuê đất trả tiền một lần cho toàn bộ thời gian thuê hoặc từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 172 Luật Đất đai thì tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tổ chức kinh tế đang được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được chuyển sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và phải xác định lại giá đất cụ thể để tính tiền thuê đất tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển sang thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo quy định của Luật Đất đai.

Tại Điều 61 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã quy định về thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 62 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục; thời gian các bước thực hiện thủ tục của từng cơ quan, đơn vị có liên quan và việc giải quyết liên thông giữa các cơ quan có liên quan theo cơ chế một cửa cho phù hợp với điều kiện cụ thể tại địa phương nhưng không quá tổng thời gian quy định cho từng loại thủ tục quy định tại Nghị định này. Do đó, nội dung kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh nới có đất.

Cần bổ sung quy định trong Nghi định 43/2014/NĐ-CP đối với khu đất công sản do các cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng khi giảm hoặc không có nhu cầu sử dụng đất mà có đề nghị xin trả lại đất thì việc xử lý tài sản là công sản thực hiện trước hay sau khi thu hồi đất mới thực hiện

Đối với khu đất thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý tài sản công do cơ quan nhà nước quản lý thì trước khi thực hiện việc trả lại đất cần thực hiện xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản công sau đó thực hiện thủ tục thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013.

Luật Đất đai có quy định về thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai. Đối với những tài sản xây dựng hợp pháp trong thời gian người sử dụng đất chưa vì phạm thì sẽ được bồi thường, hỗ trợ. Vậy sau khi người sử dụng đất vi phạm mà người sử dụng đất lại không hợp tác để kiểm đếm thì xử lý thế nào? Hiện nay Nghị định chưa quy định. Cần quy định chi tiết nội dung kiểm đếm và kiểm đếm bắt buộc trong trường hợp này và quy định việc bồi thường đối với tài sản hợp pháp được tạo lập trong thời gian người sử dụng đất chưa vi phạm. (Bổ sung tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Nghị định 47/2014/NĐ-CP).

Đối với những trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật đấy đai quy định tại điểm a, b, đ, e  khoản 1, Điều 64 Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục thu hồi đất được thực hiện theo Điều 66 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Đối với những tài sản xây dựng hợp pháp trong thời gian người sử dụng đất vi phạm mà người sử dụng đất không hợp tác thì đã được quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai năm 2013 cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc.

Đối với tài sản được tạo lập hợp pháp thì căn cứ nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật Đất đai năm 2013 “Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường”, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thu hồi đất bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần thực hiện bồi thường theo quy định, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng minh được việc tạo lập tài sản là không hợp pháp.

Việc tích tụ đất đai để thực hiện sản nông nghiệp công nghệ cao hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn vì không thể tạo ra quỹ đất đủ nhu cầu về quy mô diện tích cho dự án. Cần sửa đổi quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP để giải quyết được nội dung này

Bộ Tài nguyên và Môi trường chia sẻ với các kiến nghị của cử tri. Tại kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương sáu Khoá XI, Trung ương đã chủ trương mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân và mở rộng đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa để thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nghiên cứu xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp tại Tờ trình số 101/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019, Dự thảo Nghị định đã được các Thành viên Chính phủ cho ý kiến, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp thu ý kiến của Thành viên Chính phủ, hoàn thiện Dự thảo và đã trình Chính phủ xem xét ký ban hành. Dự thảo Nghị định này đã đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê đất, liên doanh, liên kết với người sử dụng đất để nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn nhưng vẫn đảm bảo được các quyền và lợi ích của nông dân.

Khoản 15 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 chỉ quy định về trường hợp không có tài sản, còn trường hợp có tài sản thì xử lý như thế nào? Nhất là đối với tài sản là công sản và tiền bồi thường, hỗ trợ về tài sản có được trừ vào tiền thuê đất, tiền sử dụng đất hay không? Và khi thu hồi có cần nằm trong danh mục thu hồi đất do Hội đồng nhân dân chấp thuận không? Đề nghị quy định cụ thể nội dung này

Theo quy định tại Khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với phần diện tích đất do Nhà nước giao đất để quản lý quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai, không phân biệt đất có tài sản hay không có tài sản. Về trình tự thu hồi đất có tài sản hay không có tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai. Về thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai.

Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014: Có quy định cách tính giá trị hiện có của nhà, công trình. Tuy nhiên lại không quy định thời gian khấu hao như thế nào? Khi nào thì hết hạn khấu hao của nhà, công trình. Đề nghị cần quy định cụ thể để địa phương thực hiện.

Tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định cụ thể việc bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Đất đai. Đây là các nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không phải là nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Do vậy, khi Nhà nước thu hồi đất thì việc xác định khấu hao của tài sản của nhà, công trình phải được căn cứ vào các quy định pháp luật chuyên ngành để thực hiện như Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 147/2016/TT-BTC ngày 13/10/2016, Thông tư số 28/2017/TT-BTC ngày 12/4/2017 của Bộ Tài chính).

Khoản 2, Điều 74 Luật Đất đai có quy định về giá đất bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất. Đề nghị hướng dẫn rõ về thời gian cụ thể xác định giá đất trong trình tự thực hiện thu hồi đất để địa phương thực hiện cho đúng quy định

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69, khoản 2 Điều 74 và điểm đ khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai thì giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là giá đất cụ thể được xác định tại thời điểm quyết định thu hồi đất; quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (trong đó có giá đất tính bồi thường) phải được phê duyệt trong cùng một ngày. Việc xác định giá đất cụ thể phải bảo đảm nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai và các quy định tại Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất, Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.

Bồi thường nhà, công trình trên đất (Điều 89 Luật Đất đai); bồi thường cây trồng, vật nuôi (Điều 90 Luật Đất đai) quy định là tại thời điểm thu hồi đất. Vậy vấn đề đặt ra là hàng năm Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định quy định về đơn giá bồi thường nhà, công trình, cây trồng vật nuôi làm căn cứ để áp giá bồi thường khi nhà nước thu hồi đất hay là mỗi một dự án phải ban hành một quyết định về đơn giá nhà, công trình, cây trồng, vật nuôi làm căn cứ để bồi thường. Cử tri kiến nghị cần quy định rõ để thực hiện thống nhất

Tại khoản 1 Điều 90 của Luật Đất đai đã quy định khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây: Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất; đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất; đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại; đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây.

Tại Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã quy định mức bồi thường nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó, đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành ban hành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

Do vậy, căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các Sở, ngành có liên quan tham mưu xác định đơn giá về nhà, công trình xây dựng, đơn giá về cây trồng, vật nuôi tại địa phương trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định để làm cơ sở tính bồi thường tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

Cử tri kiến nghị một số nội dung tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019: Tại Khoản 13 Điều 1 (Sửa đổi, bổ sung Điều 22 của Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015: Dự án, cơ sở đã đi vào hoạt động đồng thời đã xây dựng những công trình bảo vệ môi trường vẫn phải lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường “cho dự án cải tạo, nâng cấp, bổ sung các công trình bảo vệ môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định” điều này mâu thuẫn với khoản 2, Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường: “Việc đánh giá tác động môi trường phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án”. Đề nghị sửa lại nghị định 40/2019/NĐ-CP cho phù hợp với Luật bảo vệ môi trường. 

Tại khoản 20, điều 3 (về sửa đổi bổ sung điều 39 Nghị định 38/2015/NĐ-CP): Điểm đ, khoản 2 quy định như hiện nay là chưa nghiêm khắc vì những cơ sở có hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường mà tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần là những cơ sở ý thức kém, chây ỳ, không chấp hành pháp luật về môi trường (mà chỉ quy định là yêu cầu phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động). Đề nghị sửa lại nội dung khoản này theo hướng là yêu cầu dừng hoạt động hoặc thu hồi giấy phép.

Tại khoản 28, Điều 3 (sửa đổi bổ sung Điều 55 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015: Thực tế hiện nay có nhà máy đã được cơ quan cấp tỉnh phê duyệt báo cáo ĐTM hoặc đã được cấp giấy chứng nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường, nay muốn nhập khẩu phế liệu phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường và được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt (tại điểm b Khoản 2 Điều 55 nghị định 38/2015/NĐ-CP- sửa đổi bổ sung). Việc này rất gây tốn kèm và phiền hà cho doanh nghiệp. Đề nghị sửa đổi nội dung này cho phù hợp với thực tế.

Tại Mẫu 11 phụ lục VI Nghị định 40/2019/NĐ-CP là không cần thiết vì kết quả vận hành thử nghiệm đã được chủ dự án nêu trong báo cáo kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường, đề nghị nên bỏ mẫu này. 

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành và sẽ xem xét ý kiến của cử tri để chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp.

Điểm c khoản 1 Điều 71 Luật Tài nguyên nước quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp “Khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, vùng cần bổ sung nhân tạo nước dưới đất và công bố dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước dưới đất theo thẩm quyền, khu vực cấm, khu vực tạm thời cấm khai thác cát, sỏi và các khoáng sản khác trên sông; công bố danh mục hồ, ao, đầm phá không được san lấp”.

Khoản 7, Điều 21 Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản quy định phạt tiền đối với hành vi xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất trong vùng cấm khai thác nước dưới đất theo quy định”.

Nghị định 167/2018/NĐ-CP ngày 26/12/2018 của Chính phủ quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất nhưng chưa quy định hướng dẫn khoanh định vùng cấm khai thác nước dưới đất.

Đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc khoanh định vùng cấm khai thác nước dưới đất

Tại Điều 52 Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã giao Chính phủ hướng dẫn việc thăm dò, khai thác nước dưới đất, trong đó khoản 4 quy định về hạn chế khai thác nước dưới đất, Luật Tài nguyên nước không giao Chính phủ hướng dẫn quy định về vùng cấm khai thác nước dưới đất. Để hướng dẫn cụ thể nội dung quy định tại khoản 4 Điều 52 Luật Tài nguyên nước, ngày 26/12/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 167/2018/NĐ-CP quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất, do đó nội dung của Nghị định không quy định việc khoanh định, công bố vùng cấm khai thác nước dưới đất. Để bảo vệ nước dưới đất, trong nội dung Nghị định đã quy định nhiều biện pháp như “dừng mọi hoạt động khai thác nước dưới đất, trám lấp các giếng khai thác hiện có” (tương đương với biện pháp cấm khai thác nước dưới đất) đối với các khu vực bị sự cố về sụt lún đất, ô nhiễm nằm trong Vùng hạn chế 1.

Ngoài ra, ngày 24/3/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2020/NĐ-CP thay thế Nghị định số 33/2017/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, trong đó đã loại bỏ hành vi “xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất trong vùng cấm khai thác nước dưới đất theo quy định” và thay bằng hành vi “xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất trong vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo quy định” (Khoản 8 Điều 22 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP) đã đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. 

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang thực hiện việc rà soát, đánh giá để đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên nước năm 2012, trong đó sẽ nghiên cứu, xem xét nội dung như kiến nghị của cử tri Hà Nam khi thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên nước.

Về Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017:

Tại Điều 3: Quy định tại Điều 3 như hiện nay là chưa rõ ràng, cụ thể. Các trường hợp không phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước hiện chưa được quy định cụ thể trong Nghị định. Chẳng hạn như đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, công sở phục vụ mục đích công ích (như trường học, bênh viện….) có khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh hoạt và hoạt động dịch vụ khác thì có thuộc đối tượng phải lập hồ sơ đề nghị tính tiền và nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước không? Đề nghị sửa đổi bổ sung Điều 3 theo hướng quy định thật cụ thể, rõ ràng để xác định rõ các trường hợp phải nộp tiền và không phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

ại Điều 7, cách tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trong sản xuất rượu, bia, nước giải khát chưa rõ ràng.  Sản lượng nước phải áp với mức giá nước thiên nhiên dùng trong sản xuất rượu, bia, nước giải khát, nước đá là toàn bộ lượng nước đầu vào cho sản xuất (bao gồm các khâu như: sản xuất, rửa chai, đun nấu, vệ sinh nhà xưởng…) hay chỉ áp dụng cho lượng nước sản phẩm cuối cùng (là lượng rượu, bia, nước giải khát thành phẩm)? Đề nghị sửa đổi bổ sung rõ ràng cách tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trong trường hợp này.

Tại Khoản 2 Điều 11, như quy định hiện nay thì: việc tiếp nhận, thẩm định tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được thực hiện đồng thời với việc tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép về tài nguyên nước. Khi trình hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, cơ quan tiếp nhận, thẩm định hồ sơ cấp phép có trách nhiệm dự thảo quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này. Như vậy thời gian tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước tại Khoản 2, Điều 11 được xác định như thế nào? Trong khi Giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa được cấp, chưa rõ thời hạn cấp phép? Đề nghị sửa đổi, bổ sung để hướng dẫn cụ thể về thời gian tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước quy định tại khoản 2, Điều 11.

Thực hiện Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện dự thảo lần 2 Nghị định nêu trên, đã đăng tải trên Website Chính phủ và lấy ý kiến các Bộ, ngành địa phương. Trong đó, Bộ sẽ nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định tại Điều 3, Điều 7 và khoản 2 Điều 11 như kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Nam, dự kiến trình Chính phủ trong tháng 11 năm 2020.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan