Thứ 2, 15/08/2022 - 13:13
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Gia Lai gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 05 ý kiến của cử tri tỉnh An Giang do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Một là, đề nghị quan tâm hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các bãi rác của tỉnh Gia Lai, đặc biệt đối với 17 bãi rác thuộc danh mục cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ

Theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 01/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Gia Lai có 17 bãi rác thuộc danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần xử lý. Để có cơ sở pháp lý xem xét hỗ trợ kinh phí từ ngân sách trung ương theo Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 về hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Quyết định số 38/2011/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định 58/2008/QĐ-TTg về hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách Nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho đối tượng thuộc khu vực công ích và Thông tư số 02/2017/TT-BTC ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai cần chỉ đạo các đơn vị có liên quan lập, thẩm định và phê duyệt Dự án gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường để xem xét, tổng hợp, gửi Bộ Tài chính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Hai là, đề nghị Bộ kiến nghị với Chính phủ, thủ tướng Chính phủ quy định việc cấp phép khai thác làm vật liệu xây dựng thông thường đối với một số loại như, đất san lấp khối lượng nhỏ phục vụ cho công trình sử dụng vốn ngân sách trong thời gian ngắn (ví dụ: làm đường giao thông nông thôn), cát tích tụ ở suối nhỏ theo mùa… theo hướng đơn giản hóa, có thể không phải thăm dò, đánh giá trữ lượng mà chỉ đăng ký khối lượng khai thác để quản lý, cấp phép và tính tiền cấp quyền khai thác, vì những loại hình này khó đưa vào quy hoạch do phân tán, nhỏ lẻ, quy mô không lớn và thời gian tồn tại ngắn, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất san lấp, cát xây dựng phục vụ các công trình làm đường thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới (sử dụng khối lượng đất san lấp, cát xây dựng cho công trình ít, khoảng dưới 1.000 m3) để tránh tình trạng khai thác trái phép gây thất thu ngân sách nhà nước.

Kiến nghị nêu trên của Cử tri tỉnh Gia Lai và của một số địa phương khác là một vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận để tổng hợp, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật khoáng sản trong thời gian tới. Trước mắt, Bộ tiếp thu để nghị cứu đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản liên quan đến thành phần, hình thwucs, trình tư, thủ tục cấp phép đối với khoáng sản làm vật liêụ xây dựng thông thường khi trình Chính phủ trong Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012, dự kiến trình Chính phủ xem xét, ban hành trong tháng 10/2020.

Ba là, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản hướng dẫn xác định trữ lượng cát xây dựng bồi lắng hằng năm làm cơ sở để phê duyệt trữ lượng, tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tránh thất thu ngân sách nhà nước. Quy định việc đặt trạm cân đối với từng chủng loại khoáng sản và theo quy mô công suất được cấp phép

Việc cấp giấy phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản (trong đó có cát, sỏi lòng sông) làm cơ sở tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khi cấp phép. Tuy nhiên, đúng như cử tri phản ánh, đối với cát, sỏi lòng sông và đất đá dùng để san lấp có tính đặc thù nên khi thăm dò cần đơn giản về phương pháp, khối lượng công trình thăm dò để giảm chi phí, giảm thời gian thi công đề án thăm dò để đẩy nhanh thủ tục cho cấp phép khai thác. Do đó, ngày 13/01/2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BTNMT quy định kỹ thuật về công tác thăm dò cát, sỏi lòng sông và đất, đá làm vật liệu san lấp. Trong đó, cũng đã quy định về cách thức khoanh nổi thân khoáng (khu vực cát, sỏi được thăm dò) để xác định trữ lượng theo hướng đơn giản nhất nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước.

Khoản 2 Điều 42 Nghị Định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải lắp đặt trạm cân tại vị trí đưa khoáng sản nguyên khai ra khỏi khu vực khai thác; lắp đặt camera giám sát tại các kho chứa để lưu trữ thông tin, số liệu liên quan. Quy định này nhằm kiểm soát chặt chẽ sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các tổ chức, cá nhân, ngăn chặn tình trạng khai báo sai thực tế sản lượng khoáng sản khai thác thực tế hàng tháng khi kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của nhiều tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trong thời gian qua, chống thất thu ngân sách nhà nước. Ngày 22/12/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 61/2017/TT-BTNMT quy định quy trình, phương pháp và các mẫu biểu xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế. Theo đó, việc xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản thông qua các các tài liệu, hồ sơ liên quan như: thiết kế mỏ, khoan nổ mìn, bốc xúc, vận tải mỏ, bản đồ cập nhật hiện trạng mỏ, mặt cắt hiện trạng mỏ, chứng từ sổ sách kế toán, số liệu qua trạm cân đặt tại mỏ….Nội dung Thông tư cũng đã nêu rõ quy định quy trình việc đặt trạm cân tại vị trí đưa khoáng sản nguyên khai ra khỏi khu vực đối với từng chủng loại khoáng sản và theo quy mô công suất được cấp phép.

Bốn là, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản hướng dẫn quy định về trình tự, thủ tục thu hồi Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản, việc xử lý tiền đặt trước đối với các trường hợp khi doanh nghiệp vi phạm về thời gian làm thủ tục cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản theo quy định tại khoản 2, Điều 11 Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012 của Chính phủ

Về trình tự, thủ tục thu hồi Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản

Hiện nay, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012 của Chính phủ và các văn bản pháp luật liên quan chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu hồi Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Tiếp thu ý kiến nêu trên của cử tri, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét đưa nội dung này vào dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP ngày 26/3/2012 của Chính phủ quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản, dự kiến Chính phủ sẽ ban hành vào cuối năm 2020.

Về xử lý tiền đặt trước đối với các trường hợp khi doanh nghiệp vi phạm về thời gian làm thủ tục cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản

Khoản 5 Điều 39 Luật Đấu giá tài sản quy định: “5. Trường hợp trúng đấu giá thì khoản tiền đặt trước và tiền lãi (nếu có) được chuyển thành tiền đặt cọc để bảo đảm thực hiện giao kết hoặc thực hiện hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc thực hiện nghĩa vụ mua tài sản đấu giá sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Việc xử lý tiền đặt cọc thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”.

Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định: “1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.

Như vậy, khoản tiền đặt trước của tổ chức, cá nhân trúng đấu giá sẽ được chuyển thành tiền đặt cọc.Trường hợp tổ chức, cá nhân trúng đấu giávi phạm quy định về thời gian làm thủ tục cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, số tiền đặt cọc sẽ bị tịch thu và được nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Năm là, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về việc quản lý, theo dõi và giám sát số liệu tại trạm cân, camera giám sát trong việc thực hiện Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định về quản lý khai thác cát, sỏi lòng sông

Khoản 2 Điều 42 Nghị Định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải lắp đặt trạm cân tại vị trí đưa khoáng sản nguyên khai ra khỏi khu vực khai thác; lắp đặt camera giám sát tại các kho chứa để lưu trữ thông tin, số liệu liên quan. Quy định này nhằm kiểm soát chặt chẽ sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các tổ chức, cá nhân, ngăn chặn tình trạng khai báo sai thực tế sản lượng khoáng sản khai thác thực tế hàng tháng khi kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường của nhiều tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trong thời gian qua, chống thất thu ngân sách nhà nước. Ngày 22/12/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 61/2017/TT-BTNMT quy định quy trình, phương pháp và các mẫu biểu xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế. Theo đó, việc xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế của các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản thông qua các các tài liệu, hồ sơ liên quan như: thiết kế mỏ, khoan nổ mìn, bốc xúc, vận tải mỏ, bản đồ cập nhật hiện trạng mỏ, mặt cắt hiện trạng mỏ, chứng từ sổ sách kế toán, số liệu qua trạm cân đặt tại mỏ. Như vậy, việc quản lý, theo dõi và giám sát số liệu tại trạm cân, camera giám sát trong việc thực hiện Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định về quản lý khai thác cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng bờ bãi sông được thực hiện theo các quy định nêu trên.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan