Chủ nhật, 26/06/2022 - 12:12
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Điện Biên gửi đến sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 03 ý kiến của cử tri tỉnh Điện Biên do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực đất đai và môi trường.

Một là, những hành vi tự tạo lập, khai hoang, thấy đất trống đến dựng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 xảy ra khá nhiều nhưng Nghị định số 43/2014/NĐ-CP không quy định cụ thể để xác định đây có được xem là hành vi lấn chiếm đất hoặc tự chuyển mục đích sử dụng đất mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hay không. Khi cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp này áp dụng theo Khoản 1, Điều 20, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (không nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở) hay khoản 3, Điều 22, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và phải nộp tiền theo quy định tại khoản 2, Điều 6, Nghị định 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ (nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất). Đề nghị hướng dẫn các địa phương để địa phương thực hiện đảm bảo theo đúng quy định

Việc xác định người sử dụng đất có hay không có hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần căn cứ vào thời điểm xảy ra hành vi, quy định pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi và như các giấy tờ, sổ sách về quản lý đất đai do cơ quan Nhà nước lập trước thời điểm xảy ra hành vi để xác định cụ thể.

Về việc xác định hành vi lấn, chiếm đất đai đối với các trường hợp người dân đã sử dụng đất trước ngày 15/10/1993: Pháp luật đất đai qua các thời kỳ đều có quy định nghiêm cấm việc lấn, chiếm đất đai như:

Tại Chỉ thị 213-TTg ngày 24/9/1974 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định “Đối với những ruộng đất đã bị lấn chiếm không hợp pháp, những ruộng tạm mượn, tạm cấp làm cơ quan, kho tàng, nhà ở khi sơ tán trong chiến tranh phá hoại, nay trả lại cho sản xuất nông nghiệp” hoặc "đối với những đất của các nông trường, các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý, sử dụng đúng chế độ và chính sách của Nhà nước”;

Đến Thông tư số 55/ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý Ruộng đất hướng dẫn cách giải quyết các trường hợp sử dụng ruộng đất không hợp pháp, không hợp lý tiếp tục nhắc lại quy định tại Chỉ thị số 213-TTg ngày 24/9/1974 và có quy định hoặc “Tất cả ruộng đất hợp tác xã bị các thành phần tự do lấn chiếm để làm nhà hoặc sản xuất riêng đều phải kiên quyết thu hồi về cho Hợp tác xã sử dụng. Trường hợp đã làm nhà rồi cũng phải dỡ đi, nếu có nhiều khó khăn mà không dỡ được thì trừ vào đất 5% của người lấn chiếm” hoặc "Đối với ruộng đất của các nông trường, lâm trường, trạm trại bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý và sử dụng theo đúng chế độ, chính sách Nhà nước".

Tại khoản 1 Điều 48 của Luật Đất đai năm 1987 quy định người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các điều kiện khác đã được quy định khi giao đất; tại Điều 6 của Luật Đất đai năm 1993 quy định nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, huỷ hoại đất.

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin thông tin để cử tri được biết. Đề nghị cử tri gửi ý kiến cụ thể đối với từng trường hợp tới cơ quan quản lý đất đai ở địa phương, trên cơ sở hồ sơ, giấy tờ, sổ sách lưu trữ tại địa phương để xác định cụ thể hành vi lấn, chiếm đất đai của người sử dụng đất.

Căn cứ vào các hành vi vi phạm của người sử dụng đất (nếu có), quá trình sử dụng đất và các quy định đã nêu để xem xét thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; đối với trường hợp người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và việc sử dụng đất do lấn, chiếm đất đai thì xem xét giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

Hai là, hạn mức đất nông nghiệp được quy định ở điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2013, được giao không quá 2 ha cho mỗi loại đất là chưa phù hợp với vùng miền, địa bàn có nhiều đá, diện tích đất canh tác ít. Đề nghị sớm xem xét sửa đổi, bổ sung Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013 theo hướng tăng hạn mức giao đất nông nghiệp phù hợp với yếu tố vùng miền

Tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013 đã quy định:

“1. Hạn mức giao đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau:

a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác.

2. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

3. Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất:

a) Đất rừng phòng hộ;

b) Đất rừng sản xuất.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 héc ta.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm không quá 05 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì hạn mức giao đất rừng sản xuất không quá 25 héc ta.

5. Hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không quá hạn mức giao đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

6. Hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hằng năm, trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, làm muối thuộc vùng đệm của rừng đặc dụng cho mỗi hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.”

Như vậy, quy định nêu trên của Luật Đất đai năm 2013 về hạn mức giao đất nông nghiệp đã có sự phân biệt cụ thể đối với từng loại đất và từng vùng, miền. Mặt khác, quy định nêu trên là mức tối đa mà một hộ gia đình, cá nhân có thể được giao đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Trên thực tế, đất nông nghiệp đã giao cho các chủ sử dụng, diện tích còn lại để giao mới cho các hộ gia đình, cá nhân hầu như không còn. Vì vậy, quy định nêu trên có ý nghĩa để làm căn cứ xác định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Điều 130 của Luật Đất đai năm 2013 và làm căn cứ để tính hạn mức công nhận quyền sử dụng đất.

Ba là, đề nghị có những biện pháp quyết liệt quản lý rác thải, đặc biệt là rác thải nhựa tại các khu dân cư, bờ biển

Đứng trước vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt (rác thải) và chất thải nhựa, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tham mưu cho Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường trong đó có việc quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, cụ thể là như: Nghị định số 38/2015/NĐ- CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP); Luật Bảo vệ môi trường; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải bãi chôn lấp chất thải rắn - QCVN 25:2009/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt - QCVN 61-MT:2016/BTNMT.

Để thay đổi thói quen sử dụng đồ nhựa trong sinh hoạt, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai các giải pháp như: (1) Phối hợp với Bộ Tài chính trình Quốc hội phê duyệt Luật Thuế bảo vệ môi trường, trong đó quy định túi ni lông không thân thiện với môi trường là một trong những đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường (thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông khó phân hủy là 50.000 đồng/kg); (2) Phối hợp với Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 phê duyệt điều chỉnh Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050, trong đó chú trọng việc sử dụng túi ni lông thân thiện với môi trường thay thế cho túi ni lông khó phân hủy; hạn chế và tiến tới chấm dứt việc nhập khẩu, sản xuất và cung cấp các loại túi ni lông khó phân hủy tại các trung tâm thương mại, siêu thị phục vụ cho các mục đích sinh hoạt; (3) Tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030; (4) Trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 17/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ tăng cường quản lý đối với phế liệu nhập khẩu, bao gồm nhựa phế liệu; (5) Trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 20/8/2020 về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa.

 Song song với giải pháp về mặt chính sách, với vai trò quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động phối hợp với các địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, trong đó có việc phân loại chất thải tại nguồn, nâng cao nhận thức về chất thải nhựa và túi ni lông khó phân hủy.

Trong thời gian tới Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện:

Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý chất thải rắn, trong đó tập trung rà soát, xây dựng, hoàn thiện và lồng ghép các quy hoạch quản lý chất thải rắn vào quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch tỉnh; xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường, định mức kinh tế, kỹ thuật trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn; quản lý nhựa sử dụng một lần và túi ni lông khó phân hủy.

Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, tổ chức các hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nhựa; xây dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức thu gom, xử lý chất thải nhựa trôi nổi trong môi trường (tại các dòng sông, suối, kênh, rạch, bãi tắm, bãi biển, cảng cá ven biển); xây dựng và triển khai các mô hình tốt về quản lý chất thải nhựa sử dụng một lần và túi ni lông khó phân hủy cho phù hợp với đặc thù của địa phương.

Tập trung đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về tác hại của các sản phẩm có nguồn gốc từ nhựa, túi ni lông sử dụng một lần đối với môi trường, hệ sinh thái và sức khoẻ con người; thường xuyên phát động các phong trào phòng chống rác thải nhựa; khen thưởng kịp thời các cá nhân, tổ chức có thành tích tốt trong phong trào chống rác thải nhựa hoặc sáng kiến có giá trị; nhân rộng các mô hình tốt về thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và các mô hình nói không với rác thải nhựa.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 phê duyệt điều chỉnh Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050. Việc triển khai thành công Quyết định số 491/QĐ-TTg sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rác thải cũng như chất thải nhựa.

Tiếp tục xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ: (1) Đề án tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam; (2) Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý chất thải rắn. Việc ban hành, triển khai Đề án, Chỉ thị nêu trên sẽ bao gồm các giải pháp tổng thể, toàn diện để tăng cường công tác quản lý chất thải rắn, chất thải nhựa tại Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trên các tỉnh, thành phố cả nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan