Thứ 2, 26/09/2022 - 01:39
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Đắk Lắk gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 09 ý kiến của cử tri tỉnh Đắk Lắk do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực đất đai. 

Một là, đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai: (1) Quy định cụ thể trường hợp, điều kiện đấu giá quyền sử dụng đất, quy định cụ thể việc miễn tiền toàn bộ thời gian thuê hay miễn có thời hạn trong thời gian thuê đất; rà soát các nội dung này cho thống nhất với Luật Đấu thầu 2013, Luật Nhà ở; (2) Bổ sung quy định về định mức sử dụng đất, hạn mức giao đất đối với đất tôn giáo, chế độ sử dụng đất tôn giáo kết hợp sản xuất kinh doanh, quy định thu hồi đất tôn giáo khi vi phạm pháp luật đất đai. (3) Quy định cưỡng chế thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư đối với trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai. (4) Bổ sung quy định về phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng để thực hiện bồi thường về đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai 2013. (5) Quy định dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất vào điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai: “Khu, Vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao”. (6) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 189 của Luật đất đai “ Tài sản gắn liền với đất thuê được tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật đã đăng ký chứng nhận sở hữu công trình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ”. (7) Bổ sung quy định về điều kiện mua, bán tài sản gắn liền với đất đối với các dự án nông, lâm nghiệp. (8) Bổ sung quy định cụ thể trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và trên đất có tài sản (nhà, vật kiến trúc, công trình, cây cối,…) nhưng người dân không tranh chấp tài sản trên đất thì thẩm quyền giải quyết của cơ quan tòa án hay cơ quan hành chính nhà nước. (9) Sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể đối với trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mời chủ đầu tư kiểm tra dự án do nhà đầu tư thực hiện vi phạm pháp luật đất đai từ 03 (ba) lần trở lên mà Nhà đầu tư không hợp tác thì tham mưu cấp có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013. (10) Thực tiễn cho thấy hoạt động hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp về lĩnh vực đất đai diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương nên quy định thời gian giải quyết không quá 45 ngày như điều 202 Luật Đất đai năm 2013 là chưa phù hợp, do đó, đề nghị xem xét tăng thời gian để đảm bảo công tác giải quyết, hòa giải ở cơ sở.

Về đấu giá quyền sử dụng đất và miễn tiền toàn bộ thời gian thuê hay miễn có thời hạn trong thời gian thuê đất

Các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu giá quyền sử dụng đất; điều kiện để tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất được quy định tại Điều 118, 119 Luật Đất đai năm 2013.

Về kiến nghị quy định cụ thể việc giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp miễn tiền toàn bộ thời gian thuê hay miễn có thời hạn trong thời gian thuê đất đã sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và đang Chính phủ xem xét, ban hành.

Về bổ sung quy định về hạn mức sử dụng đất, hạn mức giao đất đối với đất tôn giáo

Tại Điều 159 của Luật Đất đai năm 2013 đã quy định đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo.

Căn cứ quy định nêu trên thì diện tích đất giao đất cho cơ sở tôn giáo căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước trong từng thời kỳ và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Về thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư đối với trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

Việc cưỡng chế thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư đối với trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Về bổ sung quy định về phạm vi, đối tượng áp dụng để thực hiện bồi thường về đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất

Tại khoản 2 Điều 77 của Luật Đất đai đã quy định phạm vi áp dụng bồi thường đất nông nghiệp là đất không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai đã sử dụng trước ngày 01/7/2004 và đối tượng áp dụng là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số địa phương lúng túng trong việc thực hiện bồi thường đối với đất nông nghiệp không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai (đất lấn, chiếm). Để tháo gỡ khó khăn này, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận để nghiên cứu hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai trên cơ sở tổng kết việc thi hành Luật Đất đai của các địa phương trong thời gian tới.

Về quy định dự án do Hội đồng nhân dân chấp thuận mà phải thu hồi đất

Kiến nghị của cử tri là phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp công nghệ cao hiện nay ở một số địa phương. Tuy nhiên, việc bổ sung quy định vào danh mục các dự án được nhà nước thu hồi đất tại Điều 62 của Luật Đất đai năm 2013 sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều nông dân đang trực tiếp canh tác trên mảnh đất nông nghiệp đó. Vấn đề này cần có đánh giá tác động một cách đầy đủ và toàn diện để đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế của địa phương và bảo vệ quyền lợi của người nông dân. Vì vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận để tổng kết đánh giá và đề xuất sửa đổi Luật Đất đai năm 2013 trong thời gian tới.

Về sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 189 Luật đất đai

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy kiến nghị của cử tri phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Bộ Tài nguyên và Môi trường trân trọng cảm ơn ý kiến của cử tri đã nêu và sẽ ghi nhận để nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền trong quá trình thực hiện sửa đổi Luật Đất đai.

Về bổ sung quy định về điều kiện mua, bán tài sản gắn liền với đất đối với dự án nông, lâm nghiệp

Luật Đất đai đã có quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất; điều kiện bán, mua tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền đất hàng năm; Điều kiện chuyển đổi đất nông nghiệp được quy định tài Điều 188, Điều 189 và Điều 190 Luật Đất đai.

Khoản 2 Điều 46 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp sau khi được sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt phương án sử dụng đất của công ty nông, lâm nghiệp tại địa phương; chỉ đạo thực hiện việc xác định cụ thể ranh giới, cắm mốc giới sử dụng đất theo phương án được duyệt, lập hồ sơ giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho công ty.

Tại khoản 7 Điều 43 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể loại cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu.

Thông tư liên tịch số 22/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 30/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định loại cây lâu năm được chứng nhận quyền sở hữu.

Điều kiện mua, bán tài sản gắn liền với đất đối với các dự án nông, lâm nghiệp được thực hiện theo các quy định nêu trên của pháp luật về đất đai; trường hợp mua, bán tài sản gắn liền với đất là tài sản công thì thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

Về bổ sung trường hợp tranh chấp đất đai

Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.

Về bổ sung trường hợp thu hồi đất

Kiến nghị của cử tri liên quan đến sửa đổi Điều 64 của Luật Đất đai năm 2013. Trong thời gian vừa qua cũng có nhiều ý kiến của cử tri, các địa phương và doanh nghiệp liên quan đến quy định tại Điều này. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận để nghiên cứu sửa đổi Luật Đất đai trong thời gian tới.

Về giải quyết hoà giải ở cơ sở

Kiến nghị của cử tri liên quan đến vấn đề sửa đổi quy định về hòa giải tranh chấp đất đai đã được Luật Đất đai năm 2013 quy định. Việc kéo dài thời gian hòa giải có thể tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thêm thời gian giải quyết. Tuy nhiên, cũng có thể tạo thành trở ngại cho các bên trong việc gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo. Vấn đề này cần được nghiên cứu, đánh giá tác động đầy đủ và lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Vì vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận để tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2013 và nghiên cứu đề xuất sửa đổi Luật Đất đai trong thời gian tới.

Hai là, đề nghị xem xét lại quy định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ‘‘cá nhân nước ngoài’’ tại Điểm a, Khoản 2, Điều 37, Nghị định 43/2014/NĐ-CP vì quy định này chưa phù hợp với Luật đất đai hiện hành. Bổ sung quy định tại Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về điều kiện gia hạn sử dụng đất khi hết thời hạn sử dụng

Về quy định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài

Theo quy định tại Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 thì cá nhân nước ngoài không thuộc đối tượng người được sử dụng đất tại Việt Nam.

Theo quy định tại các Điều 54, 55 và 56 của Luật Đất đai thì cá nhân nước ngoài không thuộc đối tượng Nhà nước giao đất, cho thuê đất.

Do đó, không có cơ sở để chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài tại khoản 1 và khoản 2 Điều 105 của Luật Đất đai.

Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai quy định về việc cấp Giấy chứng nhận khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản thực hiện quyền hoặc cấp đổi giấy chứng nhận và do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ. Luật Nhà ở năm 2014 có cho phép cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án hoặc mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ, đây là trường hợp chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thực hiện quyền của mình sau khi đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Do đó, Chính phủ quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận tại Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP có đối tượng là cá nhân nước ngoài là phù hợp Luật Đất đai, Luật Nhà ở.

Đối với đề nghị bổ sung quy định tại Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về điều kiện gia hạn sử dụng đất khi hết thời hạn sử dụng.

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy tại Điều 74 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục thực hiện việc gia hạn sử dụng đất; xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khi hết thời hạn sử dụng đất. Việc quy định điều kiện gia hạn sử dụng đất khi hết thời hạn sử dụng sẽ gây khó khăn không cần thiết cho người sử dụng đất.

Ba là, tại Nghị định số: 44/2014/NĐ-CP, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP và 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trường hợp Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất… mà diện tích theo loại đất của thửa đất hoặc khu đất có giá trị tính theo giá đất trong Bảng giá đất từ 10 tỷ đồng trở lên thì phải xác định giá đất cụ thể. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không có khái niệm về “khu đất”. Do đó, đề nghị sửa đổi các nghị định trên cho phù hợp

Việc xác định giá đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất được Chính phủ quy định tại các Nghị định: số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất; số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về thu tiền sử dụng đất; số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Theo đó: giá đất cụ thể để tính tiền giao đất, cho thuê đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà thửa đất hoặc khu đất của dự án có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với các thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh còn lại được xác định theo các phương pháp so sánh, chiết trừ, thu nhập, thặng dư.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật nêu trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá trị của thửa đất hoặc cả khu đất của dự án (tính theo giá đất trong bảng giá đất) quyết định việc áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp để xác định giá đất tính tiền giao đất, cho thuê đất, bảo đảm nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai và quy định tại Nghị định số 44/2014/NĐ-CP, Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.

Bốn là, đề nghị tiếp tục rà soát, bỏ quy định không phù hợp, không cần thiết và bổ sung các quy định mới nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính về đất đai (giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…) được thuận tiện, nhanh gọn hơn

Thủ tục hành chính về đất đai được quy định tại Chương XII Luật Đất đai và Chương VII Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ (đã được rà soát sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ). Tổ chức thi hành Luật Đất đai, Bộ tài nguyên và Môi trường đã thường xuyên rà soát, đánh giá và đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Về hồ sơ thực hiện nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai được đơn giản hơn. Đặc biệt là đối với thủ tục thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện để được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017, trong đó đã quy định việc sử dụng hồ sơ dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư để thực hiện các thủ tục này. Một số địa phương đã thực hiện luân chuyển hồ sơ điện tử giữa cơ quan quản lý đầu tư và cơ quan tài nguyên và môi trường để tổ chức thẩm định.

Về thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai, theo quy định tại khoản 40 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (sửa đổi, bổ sung Điều 61 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP), nhiều thủ tục hành chính đã quy định giảm số ngày số ngày thực hiện so với trước đây, như:

Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của tổ chức đầu tư xây dựng là không quá 15 ngày (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định là 30 ngày);

Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi thay đổi tài sản gắn liền với đất là không quá 15 ngày (Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định là 20 ngày)….

Để tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, trong đó bổ sung quy định việc cung cấp các dịch vụ công theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Theo đó, người dân có thể được yêu cầu cung cấp dịch vụ với thời gian ngắn hơn nhưng phải trả phí dịch vụ theo quy định.

Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định xây dựng, quản lý và khai thác sử dụng hệ thống thông tin đất đai. Với việc đẩy mạnh xây dựng hệ thống thông tin đất đai tại các địa phương sẽ tạo điều kiện thúc đẩy việc thực hiện các giao dịch theo phương thức điện tử và theo đó sẽ tiết kiệm hơn thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.

Năm là, đề nghị có quy định đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa có thuê đất, dự án thuê đất đã được miễn toàn bộ thời gian thuê đất thì toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp sẽ áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hàng năm để xác định đơn giá thuê đất, xác định tiền thuê đất phải nộp

Đối với trường hợp công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp, xử lý nhà đất, cổ phần hóa thì việc xác định giá đất để làm căn cứ xác định đơn giá thuê đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp của các công ty nông, lâm nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT ngày 26/02/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập phương án sử dụng đất; lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất; đo đạc, lập bản đồ địa chính; xác định giá thuê đất; giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với công ty nông, lâm nghiệp. Trong đó: Các trường hợp: sử dụng đất tại vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; sử dụng các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp được áp dụng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hàng năm để xác định giá đất làm căn cứ xác định đơn giá thuê đất.

Sáu là, quá trình thực thi Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ phát sinh một số bất cập như một số dự án đã đi vào hoạt động nên không phù hợp để áp dụng theo cấu trúc nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường vì cấu trúc báo cáo này chỉ dành cho các dự án mới (đang trong giai đoạn thành lập dự án, chưa đi vào xây dựng, vận hành). Chưa có văn bản hướng dẫn để thực hiện thẩm định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn thực hiện

Đối với nội dung về báo cáo đánh giá tác động môi trường: Cấu trúc nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ được áp dụng chung cho tất cả các dự án bao gồm các dự án mới đang trong giai đoạn lập dự án, chưa đi vào xây dựng, vận hành và cả các dự án được lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đối với dự án mở rộng quy mô, nâng công suất hoặc thay đổi công nghệ của cơ sở, khu công nghiệp đang hoạt động, trong báo cáo đánh giá tác động môi trường phải có thêm một phần đánh giá về tình hình hoạt động và thực hiện công tác bảo vệ môi trường của cơ sở, khu công nghiệp hiện hữu; đánh giá tổng hợp tác động môi trường của cơ sở, khu công nghiệp hiện hữu và dự án mở rộng quy mô, nâng công suất hoặc thay đổi công nghệ của dự án mới; Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục xem xét, có hướng dẫn thực hiện đối với các trường hợp một số dự án đã đi vào hoạt động để triển khai áp dụng trong thực tế.

Đối với nội dung về thẩm định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp: Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện được Chính phủ quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020. Trong đó: Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định: “nước thải từ các cơ sở sản xuất, chế biến là nước thải công nghiệp”. Điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định số 53/2020/NĐ-CP quy định: “việc xác định số phí phải nộp của các cơ sở sản xuất không phát sinh nước thải từ hoạt động sản xuất căn cứ vào các thông số ô nhiễm tính phí được quy định trong hồ sơ môi trường đã được cơ quan quản lý nhà nước về môi trường phê duyệt, xác nhận của cơ sở”. Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường “Tổng hợp đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung văn bản thu phí (nếu có) gửi Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ”. Theo đó, đối với các vướng mắc triển khai, thực hiện Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, đề nghị có văn bản gửi Bộ Tài chính – cơ quan chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Bảy là, tại điểm a, Khoản 3, Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: “Buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ với tình hình thực tế ở đia phương để quy định mức độ khôi phục với từng loại vi phạm quy định tại Nghị định này”. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản hướng dẫn trong công tác xử lý hành vi vi phạm như đất có nhà, công trình, đất được san nền, đào hố... để làm căn cứ thực hiện.

Theo phản ánh của một số địa phương,việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm” trên thực tế là khó thực hiện, vì một số trường hợp người sử dụng đất đã tự ý đào, đắp, san gạt và xây dựng công trình trên đất nông nghiệp, nên không thể đưa đất trở về tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Để giải quyết khó khăn, vướng mắc nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Chính phủ sửa đổi nội dung này tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 theo hướng giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương để quy định mức độ khôi phục đối với từng loại vi phạm khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm”.

Do vậy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương và các quy định tại các điều từ Điều 127 đến Điều 132 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để ban hành văn bản quy định chi tiết điểm a khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn tỉnh.

Tám là, điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai quy định thu hồi đất trong trường hợp “người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành”. Tuy nhiên, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và các nghị định xử phạt khác chưa có quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này nên để thỏa mãn điều kiện “đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành” khi thu hồi đất là không có cơ sở, gây khó khăn trong triển khai thực hiện, đề nghị xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Tại Điều 15a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được bổ sung theo Điều 15a theo quy định tại Khoản 13 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) đã quy định “Việc thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước quy định tại điểm g khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai được thực hiện trong trường hợp người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật mà đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không chấp hành.”

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”. Do đó, đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã bị xử lý theo quy định của pháp luật về tài chính nên Nghị định số 91/2019/NĐ-CP không quy định xử phạt đối với hành vi này.

Chín là, khoản 3 Điều 10 Nghị định 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không có “điểm e” (trái với điểm c khoản này có nêu “điểm e”); điểm c khoản 3 tự quy định loại trừ điểm c khoản 3 là không phù hợp, gây khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn, đề nghị kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản theo quy định nhằm đảm bảo tính thống nhất

Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận ý kiến góp ý của cử tri đối với việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, đã lấy ý kiến Thành viên Chính phủ và hiện đang trình Thủ tướng xem xét, ban hành. Đối với ý kiến mà cử tri nêu, đây là lỗi kỹ thuật, hiện đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, sửa đổi cho phù hợp với các quy định.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan