Thứ 7, 02/07/2022 - 05:57
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Bình Dương gửi đến sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 02 ý kiến của cử tri tỉnh Bắc Ninh do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến vấn đề khai thác cát lậu và quy định thu tiền rác thải sinh hoạt. 

Một là, hiện nay, tình trạng sạt lở tại các tỉnh miền Tây đang diễn biến ngày càng nguy hiểm, phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân. Cử tri đề nghị xử lý nghiêm đối với các trường hợp khai thác cát lậu, vì đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sạt lở

Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt để xử lý tình trạng như phản ánh của cử tri nêu trên, cụ thể như sau:

Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản cơ bản đã hoàn thiện với: 01 Luật, 09 Nghị định (trong đó có 04 Nghị định mới được ban hành để thay thế); 06 Quyết định và 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; 62 Thông tư, Thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan. Các quy định của Luật khoáng sản và các văn bản dưới Luật theo hướng chặt chẽ, minh bạch và bền vững. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản và chấn chỉnh hoạt động khoáng sản của tổ chức, cá nhân. Theo đó, đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trong công tác bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường trong hoạt động khoáng sản.

Ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 03/CT-TTg), theo đó Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện nhiều giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản, nhất là công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về khoáng sản, thanh tra trách nhiệm đối với các tổ chức hành chính và người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường; kiểm tra, xử lý theo quy định đối với các cơ sở chế biến, sử dụng khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, các cơ sở chế biến có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Từ năm 2015 đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần chủ trì các Hội nghị trực tiếp, trực tuyến với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương, trực tiếp kiểm tra việc khai thác cát, sỏi tại một số địa phương nhằm giải quyết triệt để việc khai thác cát, sỏi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và cuộc sống của người dân, cụ thể như: Thông báo kết luận số 357/TB-VPCP ngày 06/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về phòng, chống vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác cát, sỏi trên sông và cửa biển; các Thông báo: số 161/TB-VPCP ngày 24/3/2017, số 325/TB-VPCP ngày 25/7/2017 về ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị trực tuyến với các Bộ, ngành liên quan và một số địa phương về tình hình vi phạm pháp luật trong khai thác cát, sỏi, các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, kinh doanh cát, sỏi. Theo đó, Phó Thủ tướng thường trực đã yêu cầu các Bộ, ngành và các địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/CT-TTg, đồng thời đề cao trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra vi phạm; giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành và địa phương liên quan tiếp tục mở đợt cao điểm trấn áp tội phạm trong khai thác cát, sỏi trái phép, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành và địa phương để khắc phục tình trạng này.

Về phía các Bộ, ngành:

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các lực lượng chức năng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều biện pháp đấu tranh, phát hiện, bắt giữ, xử lý cương quyết, nghiêm khắc theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khoáng sản.

Kết quả đạt được cụ thể:

Các lực lượng chức năng của Bộ Quốc phòng đã phát hiện, bắt giữ, xử lý gần 300 các vụ việc vi phạm trong hoạt động khoáng sản, trong đó:

Bộ đội Biên phòng đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 182 vụ/521 đối tượng (hầu hết là khai thác, mua bán, vận chuyển khoáng sản nội địa); tạm giữ 17.725 tấn quặng, 106.881 tấn than, 19.660 m3 cát, 158 phương tiện các loại, 160 máy hút cát, 1.245 mét ống hút cát và nhiều tang vật khác.

Kết quả xử lý: xử lý vi phạm hành chính 157 vụ/452 đối tượng, thu tiền phạt là 5.631.720.000 đồng; tiền bán phát mại hàng tịch thu, nộp ngân sách nhà nước là 12.625.949.000 đồng; bàn giao cho lực lượng chức năng xử lý theo thẩm quyền 25 vụ/69 đối tượng.

Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 53 vụ/57 tàu vận chuyển trái phép 72.184,494 tấn than; 3.051,827 tấn quặng ilmenite; 7.660 tấn quặng sắt; 151 tấn quặng titan.

Kết quả xử lý: xử lý hành chính 51 vụ với tổng số tiền phạt và bán phát mại (70.023,494 tấn than; 151 tấn quặng ilmenite; 7.660 tấn quặng sắt) thu được 67.298.453.000 đồng; bàn giao 01 vụ/01 tàu/2.161 tấn than cho cơ quan chức năng; đang điều tra, xử lý 01 vụ vận chuyển 3.051,827 tấn quặng ilmenite.      

Các lực lượng chức năng của Bộ Công an đã phát hiện, bắt giữ, xử lý gần 7.000 các vụ việc vi phạm trong hoạt động khoáng sản với khoảng 6.800 đối tượng, xử phạt gần 100 tỷ đồng, tịch thu hơn 300 máy nổ, gần 30 máy xúc, 20 giàn sàng, khoảng 150 ghe thuyền các loại, 20 xe ben, hơn chục ngàn m3 cát, sỏi…

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt để xử lý tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép:

Từ năm 2015 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Nghị định: (1) số 158/2016/NĐ-CP ngày 9/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản (sau đây gọi tắt là Nghị định 158/2016/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012, theo đó, Nghị định 158/2016/NĐ-CP đã bổ sung nhiều nội dung mới nhằm tăng cường công tác quản lý khoáng sản, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp khi được giao quyền khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý bảo vệ khoáng sản chưa khai thác tại Chương III; hướng dẫn nội dung Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các địa phương nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép hoặc khai thác trái phép kéo dài mà không xử lý; (2) số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (thay thế các Nghị định số 142/2013/NĐ-CP và Nghị định số 33/2017/NĐ-CP, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2020), theo đó nội dung Nghị định đã bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm, tăng mức xử phạt các hành vi vi phạm từ 2 đến 3 lần, đặc biệt đã quy định riêng về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khai thác cát, sỏi và đã tăng mức xử phạt cao nhất theo quy định nhằm đủ sức răn đe các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản. Mặt khác, Bộ đã thực hiện nhiều hình thức phổ biến pháp luật về khoáng sản; đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm của Bộ nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên đề để xử lý các hành vi gây tổn thất lớn khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phối hợp với các địa phương để nắm bắt thông tin, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 Quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông (có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2020). Nội dung Nghị định đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép; quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của các địa phương, của lực lượng cảnh sát đường thủy đối với việc khai thác cát, sỏi trái phép nhất là ở vùng giáp ranh giữa các địa phương. Nghị định đi vào cuộc sống sẽ góp phần rất quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chấn chỉnh các hoạt động khai thác và vận chuyển cát, sỏi lòng sông.

Về phía các địa phương: Hiện nay, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã lập và phê duyệt quy hoạch khoáng sản trong đó có cát, sỏi lòng sông; ban hành nhiều Chỉ thị, văn bản chỉ đạo điều hành, phê duyệt kế hoạch hoặc phương án bảo vệ khoáng sản, quy định trách nhiệm Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong quản lý khoáng sản trên địa bàn. Riêng đối với khoáng sản cát, sỏi lòng sông ngoài việc triển khai công tác thanh tra, kiểm tra, nhiều tỉnh đã ban hành quy chế phối hợp giữa các Sở, ngành; ban hành quy chế phối hợp quản lý khoáng sản cát, sỏi lòng sông tại các khu vực giáp ranh, các lưu vực sông,… thực hiện đồng thời nhiều biện pháp như quản lý chặt chẽ bến bãi, lập đường dây nóng, nghiêm cấm việc mua bán cát, sỏi không có nguồn gốc hợp pháp.

Đến nay các tỉnh, thành phố trên địa bàn cả nước đã ban hành 52 quy chế quản lý cát, sỏi lòng sông ở những khu vực giáp ranh, có 652 bến, bãi tập kết vật liệu xây dựng được cấp giấy phép hoạt động;

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trương Hoà Bình tại Thông báo số 142/TB-VPCP ngày 12/4/2019 của Văn phòng Chính phủ, các tỉnh, thành phố đã có chỉ đạo quyết liệt để chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh bến bãi tập kết cát, sỏi trái phép trên địa bàn quản lý;

Các địa phương qua công tác thanh, kiểm tra đã phát hiện và xử lý gần 15.000 trường hợp vi phạm, xử phạt (7.302 trường hợp vi phạm khai thác trái phép, 7.634 trường hợp vi phạm Giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật) với số tiền trên 167,7 tỷ đồng; một số vụ vi phạm trong hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông đã được chuyển xử lý hình sự (26 vụ); ngoài xử phạt vi phạm hành chính đã thu giữ, tiêu hủy nhiều phương tiện khai thác trái phép. Với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền, hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép đã thực sự giảm cả về quy mô và số lượng, một số địa phương đã cơ bản ngăn chặn hoạt động khai thác cát trái phép tái diễn như: Thanh Hoá, Hải Dương, Nghệ An, Quảng Nam, Phú Thọ...

Để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước lĩnh vực hoạt động khoáng sản, chấn chỉnh các hoạt động khai thác cát, sỏi của các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác, nạo vét kết hợp thu hồi cát, giải tỏa triệt để các khu vực khai thác cát, sỏi trái phép, các địa phương, các Bộ liên quan khẩn trương tổ chức thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nội dung nhiệm vụ quy định cụ thể trong Nghị định số 23/2020/NĐ-CP nêu trên; tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/CT-TTg và chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Thông báo số 142/TB-VPCP, theo đó, các địa phương ban hành và thực hiện đúng cam kết Quy chế phối hợp trong quản lý, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản (nhất là cát, sỏi lòng sông) tại khu vực giáp ranh; cương quyết xử lý người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép, gây bức xúc dư luận; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định tại Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát, chấn chỉnh các hoạt động thăm dò, khai thác cát, sỏi lòng sông và thu hồi cát từ các dự án nạo vét, khơi thông luồng lạch trên địa bàn; cấp phép mở bến, bãi tập kết, kinh doanh cát, sỏi trên cơ sở quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; kiên quyết xử lý dứt điểm bến bãi tập kết kinh doanh cát, sỏi trái phép và có biện pháp chống tái diễn. Phát huy vai trò giám sát của người dân, của cộng đồng đối với chính quyền và với doanh nghiệp; của chính quyền cấp trên đối với chính quyền cấp dưới; tăng cường giám sát quá trình khai thác của các doanh nghiệp theo đúng Giấy phép và các quy định của pháp luật có liên quan, đặc biệt là nơi có nguy cơ sảy ra sạt lở.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Chỉ thị tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản để thay thế Chỉ thị số 03/CT-TTg nêu trên, trong đó đề xuất các giải pháp, nhiệm vụ cụ thể đối với từng Bộ, ngành liên quan, đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để triển khai thực hiện các quy định mới của 05 Nghị định trong lĩnh vực khoáng sản đã được ban hành từ khi có Chỉ thị số 03/CT-TTg đến nay

Hai là, cử tri kiến nghị dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) không nên quy định thu tiền rác thải sinh hoạt từ bình dân đầu người sang khối lượng hoặc dung tích túi đựng rác. Vì hiện nay, ý thức bảo vệ môi trường của đa số người dân chưa cao, quy định như vậy có thể dẫn đến tình trạng vứt rác nơi công cộng, vứt xuống sông suối, cống, rãnh,... ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường

Một trong những nguyên nhân dẫn đến bất cập trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt là do chúng ta chưa thực hiện được việc phân loại tại nguồn và chưa áp dụng được triệt để nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Trong khi đó, hầu hết kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt được chi trả gần 100% bởi ngân sách nhà nước. Việc thu nguồn kinh phí này tại các địa phương hầu hết được thực hiện thu bình quân theo hộ gia đình, một số địa phương thu theo số nhân khẩu của hộ gia đình mà chưa thu theo thực tế khối lượng chất thải phát sinh hoặc các loại chất thải phát sinh. Điều này dẫn đến không khuyến khích việc giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải phát sinh, đồng thời không khuyến khích việc phân loại chất thải tại nguồn. Khi quy định kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt thông qua lượng phát sinh (bảo đảm có thể thanh toán được tối thiểu là 10% kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt, phần còn lại do nhà nước hỗ trợ) thì việc phát sinh nhiều chất thải đồng nghĩa với việc phải trả nhiều tiền hơn, do đó sẽ khuyến khích tổ chức, cá nhân giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế lượng chất thải phải thải ra môi trường, đồng thời thực hiện được nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Kinh nghiệm tại các nước trên thế giới, đặc biệt tại Hàn Quốc sau một năm thực hiện chính sách này đã giảm được 22% lượng chất thải rắn sinh hoạt so với trước khi chưa có chính sách này.

Với mục đích vậy, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường đã quy định kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo nguyên tắc dựa trên khối lượng phát sinh thay vì hình thức thu bình quân. Đây là quy định trên nguyên tắc, để đảm bảo tính khả thi thì dự thảo Luật cũng đưa ra một số quy định liên quan như sau:

Quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể lộ trình, hình thức và mức thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo khối lượng, chủng loại phát sinh;

Quy định đơn vị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt có quyền từ chối thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân không phân loại và không sử dụng bao bì đúng quy định và thông báo cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý theo quy định pháp luật;

Quy định tổ dân phố, tổ chức chính trị xã hội phối hợp đơn vị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt hướng dẫn, vận động cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân chuyển giao chất thải rắn sinh hoạt cho đơn vị thu gom, vận chuyển hoặc điểm tập kết đúng quy định; giám sát và công khai hành vi vi phạm của hộ gia đình, cá nhân trong phân loại, thu gom chất thải rắn sinh hoạt.

Quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo thẩm quyền.

Việc thu phí qua hình thức bán bao bì, thiết bị đựng chất thải hiện đang được Nhật Bản và Hàn Quốc thực hiện khá thành công. Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu kỹ mô hình và kinh nhiệm của các quốc gia trên để làm căn cứ quy định tại Việt Nam. Với những quy định trên và sự vào cuộc của toàn xã hội, quy định này sẽ dần đi vào cuộc sống, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan