Chủ nhật, 25/09/2022 - 23:59
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Kạn gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 12 ý kiến của cử tri tỉnh Bắc Kạn do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Ngày 07/01/2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Văn bản số 60/BTNMT-TCQLĐĐ báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép thực hiện giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất đối với diện tích nhỏ lẻ, sau khi thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Đây là vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý đất đai tại địa phương, tuy nhiên Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể, nên khó khăn khi triển khai thực hiện và cần được tháo gỡ. Đề nghị sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện nội dung này.

Thực hiện Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 01/10/2019 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn, trong đó tại điểm 4 Mục III của Thông báo số 347/TB-VPCP giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan khẩn trương nghiên cứu, đề xuất xử lý kiến nghị của tỉnh về chủ trương thực hiện việc giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá đối với diện tích đất nhỏ, lẻ sau khi thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình, cá nhân và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý IV năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 60/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 07/01/2020 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép thực hiện giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất đối với diện tích nhỏ lẻ, sau khi thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Tại Công văn nêu trên Bộ Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo làm rõ 2 nội dung:

Pháp luật đất đai hiện hành chưa có quy định về việc giao, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất đối với các thửa đất hiện do Nhà nước quản lý mà có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa hoặc thửa đất có diện tích lớn hơn diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa nhưng hình thể khu đất, thửa đất không phù hợp để xây dựng nhà ở, công trình độc lập.

Để tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai tại các địa phương và giải quyết vướng mắc liên quan đến việc giao, cho thuê đất đối với các thửa đất có diện tích nhỏ, lẻ đảm bảo cơ sở pháp lý để các địa phương thực hiện thống nhất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu và đề xuất nội dung này tại Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và đã trình Chính phủ tại Tờ trình số 102/TTr-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2019. Hiện nay, Dự thảo Nghị định đang được Chính phủ xem xét ban hành.

Đề nghị sớm ban hành Nghị định quy định về tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp để địa phương có căn cứ áp dụng về hình thức tập trung, tích tụ đất nông nghiệp 

Thực hiện Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu xây dựng, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp (Tờ trình số 101/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019). Dự thảo Nghị định này đã đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê đất, liên doanh, liên kết với người sử dụng đất để nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn nhưng vẫn đảm bảo được các quyền và lợi ích của nông dân. Hiện nay, Chính phủ đang xem xét ban hành dự thảo Nghị định.

Việc thực hiện quy định về biện pháp khắc phục hậu quả tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trong một số trường hợp không thực hiện được, ví dụ như trường hợp tự ý san ủi đất (đất đồi) hoặc lấp đất trồng lúa, ngoài việc bị xử phạt bằng tiền, người vi phạm bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Thực tế việc khôi phục là không thực hiện được, cũng không thể cưỡng chế thực hiện được. Đề nghị có văn bản hướng dẫn cụ thể để làm cơ sở thực hiện

Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, một số địa phương và cử tri đã phản ánh việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm” quy định tại Nghị định số 102/2014/NĐ-CP trên thực tế tại địa phương là khó thực hiện, vì một số trường hợp người sử dụng đất đã tự ý đào, đắp, san gạt và xây dựng công trình trên đất nông nghiệp, nên không thể đưa đất trở về tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Để giải quyết khó khăn, vướng mắc nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Chính phủ sửa đổi nội dung này tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 theo hướng giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương để quy định mức độ khôi phục đối với từng loại vi phạm khi áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm”.

Do vậy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương và các quy định tại các điều từ Điều 127 đến Điều 132 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để ban hành văn bản quy định chi tiết điểm a khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn tỉnh.

Đề nghị quan tâm có chính sách hỗ trợ kinh phí cho tỉnh Bắc Kạn để thực hiện một số đề án liên quan đến đất đai như sau: + Đề án tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ lâm trường quốc doanh do các Công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp theo Nghị định số 118/2014/NĐ - CP, Ban quản lý rừng và các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (Dự toán kinh phí: 18.510 triệu đồng). + Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại các huyện Chợ Mới, Bạch Thông (khái toán kinh phí: 50 tỷ đồng). + Đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính gắn với cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng  đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (Khái toán kinh phí: 102.350 triệu đồng). + Kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất (Dự toán kinh phí: 12.000 triệu đồng)

Đối với Đề án “Tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ban quản lý rừng và các tổ chức sự nghiệp khác, hộ gia đình, cá nhân sử dụng”: Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổng hợp nhu cầu kinh phí thực hiện Đề án tại Công văn số 6171/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/11/2017 gửi Bộ Tài chính. Theo đó, Bộ Tài chính đã có Công văn số 2997/BTC-QLCS ngày 16/3/2018, trong đó đề nghị đối với nhiệm vụ thực hiện tại địa phương, ngân sách địa phương đảm bảo.

Tiếp theo thực hiện Thông báo số 475/TB-VPCP ngày 25/12/2018 và Thông báo số 14/TB-VPCP ngày 08/01/2019 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các địa phương rà soát lại tổng thể Đề án. Để đảm bảo các nhiệm vụ trong Đề án, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Tờ trình số 04/TTr-BTNMT ngày 01/02/2019 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng thể nội dung Đề án, trong đó xác định rõ nhiệm vụ của các Bộ, ngành, địa phương và nguồn kinh phí bố trí để thực hiện Đề án. Đồng thời gửi báo cáo giải trình 1205/BC-BTNMT ngày 20/5/2019 gửi Văn phòng Chính phủ giải trình về việc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã gửi Bộ Tài chính tại Văn bản số 1951/BTNMT-TCQLĐ ngày 02/5/2019 đã đề xuất phương án hỗ trợ kinh phí cho các địa phương (trong đó có tỉnh Bắc Kạn).

Dự án hiện nay đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 32/QĐ-TTg, theo yêu cầu, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang thực hiện việc rà soát, tổng hợp lại nhu cầu kinh phí của các địa phương để gửi Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, hỗ trợ cho địa phương, trong đó đã tổng hợp nhu cầu kinh phí cho tỉnh Bắc Kạn.

Đối với việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận và cơ sở dữ liệu: Tại Quyết định 191/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2018; Quyết định số 238/QĐ-TTg ngày 28 tháng 2 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động bố trí ngân sách địa phương để thực hiện Dự án tổng thể trên địa bàn. Ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ cho các địa phương khó khăn về ngân sách theo khả năng cân đối của ngân sách trung ương; từ năm 2018 không xem xét hỗ trợ kinh phí cho các địa phương chưa bố trí đảm bảo tối thiểu 10% số thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện công tác đo đạc, đăng ký đất đai, lập cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiếp theo tại Quyết định số 238/QĐ-TTg ngày 28/2/2019 của Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh nghiêm túc thực hiện bố trí từ ngân sách địa phương bảo đảm dành tối thiểu 10% tổng số thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện Dự án tổng thể.

Vì vậy, để có cơ sở tổng hợp hợp gửi Bộ Tài chính xem xét trình Thủ tướng Chính phủ tiếp tục hỗ trợ địa phương một phần chênh lệch giữa số nhu cầu chi và phần yêu cầu địa phương bố trí từ nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, để hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính, trích đo địa chính có tọa độ theo Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội, đề nghị địa phương rà soát khối lượng thực hiện và thực hiện cam kết bố trí tối thiểu 10% tổng số thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện Dự án tổng thể.

Đề nghị bổ sung một số nội dung chưa được quy định cụ thể tại Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, cụ thể như sau: + Về trường hợp miễn giảm nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước (các trường hợp đang tạm dừng hoạt động, khắc phục sự cố do tài nguyên nước gây ra...). +Quy định cụ thể đối với trường hợp xem xét cấp giấy phép tài nguyên nước lần đầu, nếu đang vi phạm hành chính có được xem xét cấp phép hay không?

Thực hiện Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện dự thảo lần 2 Nghị định nêu trên, đã đăng tải trên Website Chính phủ và lấy ý kiến các Bộ, ngành địa phương. Trong đó, Bộ sẽ nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các trường hợp miễn tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước như kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Kạn, dự kiến trình Chính phủ trong tháng 11 năm 2020.

Về đề nghị bổ sung “nội dung cụ thể đối với trường hợp xem xét cấp giấy phép tài nguyên nước lần đầu, nếu đang vi phạm hành chính có được xem xét cấp phép hay không?”, nội dung nêu trên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP, vì vậy, không xem xét, bổ sung trong dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP. Nội dung này sẽ được xem xét, nghiên cứu khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ.

Tại điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản quy định: “Bộ Công Thương chủ trì lập Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng)”. Tuy nhiên, đến quy hoạch khoáng sản cấp tỉnh thì nhiệm vụ này lại được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan chuyên môn về Công thương thực hiện: “Chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan tổ chức thực hiện quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản sau khi được phê duyệt theo thẩm quyền” tại điểm d khoản 5 Điều 2 Thông tư liên tịch số 22/2015/TT-BCT-BNV ngày 30/6/2015. Đề nghị xem xét điều chỉnh cho thống nhất

Về vấn đề quy hoạch trong lĩnh vực khoáng sản, ngày 24/11/2017 Quốc hội đã thông qua Luật quy hoạch (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019), đồng thời Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch, trong đó có Luật khoáng sản (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019). Theo đó, các quy hoạch trong lĩnh vực khoáng sản gồm có: quy hoạch cấp quốc gia gồm: quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng phóng xạ; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng; không có quy hoạch riêng về khoáng sản cấp tỉnh mà chỉ có nội dung phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên trong quy hoạch tỉnh và quy hoạch vùng.

Về nội dung, thẩm quyền, trình tự thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch nêu trên hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật quy hoạch năm 2017 và Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quy hoạch. Do đó, đề nghị các địa phương triển khai thực hiện theo pháp luật hiện hành.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013: “Trường hợp đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này mà không có người tham gia hoặc trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá hoặc đấu giá ít nhất là 02 lần nhưng không thành thì Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất mà không phải đấu giá quyền sử dụng đất”. Đề nghị Bộ có văn bản hướng dẫn việc giao đất là giao đất cho đối tượng nào, trường hợp có nhiều người đăng ký giao đất thì trình tự thủ tục giao như thế nào? Giá đất để giao áp dụng theo quy định nào để việc thực hiện được thuận lợi.

Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền quản lý đất đai tại địa phương đã được phân cấp tại Điều 59 của Luật Đất đai năm 2013  để quyết định việc giao đất, cho thuê đất đảm bảo nguyên tắc quy định tại Điều 6 và Điều 9 của Luật Đất đai năm 2013 sau khi đã thực hiện đầy đủ thủ tục tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật về đấu giá đất. Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường  lưu ý một số vấn đề sau:

Trường hợp có nhiều người đăng ký giao đất thì phải tiếp tục tổ chức đấu giá theo quy định đảm bảo thực hiện đúng thủ tục đấu giá theo quy định của Luật Đấu giá, khi đưa ra đấu giá ít nhất là 02 lần nhưng không thành thì mới được giao đất chỉ định cho người sử dụng đất. Sau khi đã đưa ra đấu giá 2 lần nhưng không thành mà vẫn có nhiều người đăng ký xin giao đất, thuê đất thì căn cứ quy định tại Điều 52 của Luật Đất đai năm 2013, Phương án đấu giá và quy định về thủ tục giao đất, cho thuê đất để thẩm định nhu cầu sử dụng đất trong dự án đầu tư, đảm bảo việc giao đất cho người sử dụng đất được lựa chọn đạt hiệu quả cao nhất.

Trường hợp chỉ có 01 người tham gia đấu giá thì xem xét giao đất, cho thuê đất theo quy định.

Trường hợp không có người tham gia đấu giá, sau khi đã thực hiện các thủ tục để mời gọi nhà đầu tư, người sử dụng đất quan tâm nhưng không có người tham gia thì Ủy ban nhân dân tỉnh được chủ động kêu gọi các chủ đầu tư đáp ứng điều kiện và giao đất, cho thuê đất không thông quá đấu giá.

Về giá đất, thực hiện theo quy định tại Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013.

Quy định về thu hồi đất trong trường hợp “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành” tại điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thực tế không thực hiện được, vì: Theo quy định hiện hành, trường hợp người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính không bị xử phạt theo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Còn trong lĩnh vực quản lý thuế, hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính cũng không thuộc trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính mà xử phạt bằng hình thức tính tiền chậm nộp. Do đó không có đủ cơ sở để thu hồi đất theo quy định này.

Tại Điều 15a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (được bổ sung theo Điều 15a theo quy định tại Khoản 13 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) đã quy định “Việc thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước quy định tại điểm g khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai được thực hiện trong trường hợp người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật mà đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không chấp hành.” Do đó, đối với hành vi này trước tiên sẽ xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về tài chính.

Đề nghị Bộ hướng dẫn cụ thể hơn về trường hợp thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Ví dụ, theo quy định hiện hành Hợp tác xã là tổ chức kinh tế, do đó việc sử dụng đất của Hợp tác xã thực hiện các dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp thuộc trường hợp được Nhà nước cho thuê đất theo hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Nhưng trong trường hợp các Hợp tác xã là nhà đầu tư đã thuê quyền sử dụng đất của các hộ dân để thực hiện dự án đầu tư thì có cần thực hiện thủ tục thuê đất với Nhà nước theo nữa không hay chỉ cần cập nhật, đăng ký biến động sử dụng và chỉnh lý vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người đã cho thuê quyền sử dụng đất

Việc sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh được thực hiện theo quy định tại Điều 73 và Điều 193 Luật Đất đai; trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 79 và Điều 80 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, khoản 50 và khoản 51 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP. Theo đó, trường hợp hợp tác xã thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như ý kiến của cử tri thì người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất trước khi thực hiện thủ tục cho nhà đầu tư thuê quyền sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Trường hợp này nhà đầu tư không thực hiện thủ tục thuê đất với Nhà nước mà thực hiện thủ tục đăng ký thuê quyền sử dụng đất của người sử dụng (sau khi người sử dụng đất đã thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất). Thủ tục thuê quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện sau khi đã có văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Luật Đất đai. Như vậy, pháp luật về đất đai hiện hành đã có quy định cụ thể đối với trường hợp mà cử tri nêu.

Việc thực hiện Nghị định số 43/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước còn gặp nhiều khó khăn. Trong công tác lập danh mục, xây dựng phương án cắm mốc, thẩm định các phương án cắm mốc còn thiếu hướng dẫn về việc áp dụng định mức, đơn giá để lập danh mục, khảo sát, thiết kế hành lang bảo vệ nguồn nước; thiếu các hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy cách mốc giới. Đề nghị Bộ ban hành quy định về định mức, đơn giá, nội dung cho các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên nước, có hướng dẫn chi tiết về việc bố trí nguồn kinh phí sự nghiệp tài nguyên nước để tỉnh có cơ sở bố trí nguồn kinh phí thực hiện các nhiệm vụ hàng năm

Tính đến thời điểm hiện nay, toàn quốc đã có 33/63 tỉnh, thành phố đã phê duyệt và công bố Danh mục nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn theo quy định của Nghị định số 43/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2019 của Chính phủ quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.

Hiện nay, chưa có định mức kinh tế - kỹ thuật riêng cho công tác lập danh mục, cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước. Do đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tổng hợp ý kiến nêu trên và nghiên cứu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản hướng dẫn kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên nước. Trước mắt, các nội dung công việc phục vụ lập danh mục, xây dựng phương án cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước có thể được thực hiện theo Thông tư số 30/2017/TT-BTNMT ngày 11/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước.

Việc xây dựng phương án cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước thực hiện theo quy định tại Điều 12, 13 của Nghị định số 43/2015/NĐ-CP. Ngoài ra, tuỳ theo điều kiện cụ thể, quy mô, tính chất, cơ sở kỹ thuật có thể thực hiện theo quy định tại Thông tư số 48/2014/TT-BTNMT ngày 22/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về xác định đường địa giới hành chính, cắm mốc địa giới và lập hồ sơ địa giới các cấp.

Về việc bố trí nguồn kinh phí cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước, theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 43/2015/NĐ-CP, kinh phí cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo ở các đô thị, khu dân cư tập trung và các nguồn nước khác do ngân sách nhà nước đảm bảo, bao gồm ngân sách địa phương, hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và được bổ sung từ nguồn thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 03/08 huyện, thành phố có công trình xử lý nước thải tập trung. Các chất thải từ sinh hoạt và hoạt động sản xuất không được xử lý, thải trực tiếp ra hệ thống kênh rãnh ra sông suối hoặc thấm xuống đất; Tỉnh chưa bố trí được nguồn vốn đầu tư xây dựng các công trình xử lý nước thải, chính vì vậy làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Đề nghị Bộ có văn bản quy định về việc xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị, khu dân cư; quan tâm phân bổ nguồn vốn để xây dựng, lắp đặt hệ thống công trình xử lý nước thải sinh hoạt tập trung.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai rà soát toàn diện hệ thống chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt tại dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) đã được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV đã có quy định cụ thể về xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị, khu dân cư tập trung. Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục xây dựng các văn bản dưới luật để cụ thể hóa các quy định nêu trên; phối hợp với địa phương, bộ, ngành liên quan trong quá trình triển khai các dự án đầu tư liên quan tới xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại địa phương

Nội dung vướng mắc về kinh phí thực hiện đo đạc, xác định diện tích đất phục vụ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đã được Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh kiến nghị tại văn bản số 36/BC-ĐĐBQH ngày 11/10/2019 về tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri với các cơ quan Trung ương trước kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV; được Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời tại văn bản 4603/BTNMT-PC ngày 16/9/2019. Theo đó, Bộ hướng dẫn thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTNMT-BTC ngày 24/6/2016 quy định việc quản lý, cấp phát, tạm ứng và hoàn trả chi phí đo đạc, xác định diện tích đất vi phạm. Tuy nhiên, nội dung hướng dẫn này không phù hợp vì Thông tư số 12 chỉ áp dụng trong trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (trường hợp người vi phạm không nhất trí với diện tích vi phạm do cơ quan có thẩm quyền xác định, yêu cầu đo đạc, xác định lại). Do đó, hiện nay địa phương vẫn chưa có cơ sở để bố trí kinh phí thực hiện đo đạc, xác định diện tích đất vi phạm làm cơ sở xử lý vi phạm

Ngày 19/11/ 2019, Chính phủ ban đã hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (tại khoản 2 Điều 43 thì Nghị định số 91/2019/NĐ-CP thay thế Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Do vậy, Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTC-BTNMT ngày 24/6/2016 của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tài chính quy định việc quản lý, cấp phát, tạm ứng và hoàn trả chi phí đo đạc xác định diện tích vi phạm (hướng dẫn khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 102/2014/NĐCP ngày 10/11/2014 của Chính phủ) đã hết hiệu lực thi hành do Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ đã hết hiệu lực pháp luật (theo quy định tại khoản 4 Điều 154 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố hết hiệu lực của Thông tư này tại Quyết định số 1444/QĐ-BTNMT ngày 01/7/2020. Việc xác định diện tích đất vi phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ.

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường về các vấn đề mà cử tri tỉnh Bắc Kạn quan tâm. Bộ Tài nguyên và Môi trường xin gửi tới Đoàn Đại biểu Quốc hội để trả lời cử tri trong quá trình tiếp xúc cử tri./.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan