Thứ 7, 24/10/2020 - 15:45
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri thành phố Đà Nẵng gửi đến sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 03 ý kiến của cử tri thành phố Đà Nẵng do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến đề nghị khẩn trương sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Đất đai; phản ảnh, hiện nay, sau khi thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân thì hạn mức “đất ở” thấp hơn rất nhiều so với diện tích “đất thổ cư” được ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây; kiến nghị cần tăng cường giám sát về tình trạng ô nhiễm môi trường tại các con sông.

Một là, cử tri đề nghị khẩn trương sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Đất đai cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới. Vì hiện Luật này bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn trong quản lý đất đai, kìm hãm sự phát triển của đất nước, làm thất thoát ngân sách nhà nước, dẫn đến tiêu cực và tham nhũng, tạo kẽ hở cho nhóm lợi ích trục lợi và gây nên tình trạng khiếu kiện kéo dài và ngày càng phức tạp

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, nhiệm vụ của Chính phủ giao, trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện các nội dung sau đây: (i) thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập Dự án Luật với sự tham gia của đại diện Lãnh đạo các Bộ, ngành và một số địa phương; các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý; (ii) tổng hợp và hệ thống các nội dung chỉ đạo trong các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương liên quan đến lĩnh vực đất đai cần phải thể chế; (iii) ban hành văn bản đề nghị các Bộ, ngành, địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá việc tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2013; (iv) tổng hợp ý kiến của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các địa phương và ý kiến kiến nghị của cử tri, của người dân, doanh nghiệp về các vướng mắc, bất cập và hướng sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai; (v) tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, làm việc trực tiếp với một số Bộ, ngành, địa phương và chuyên gia về những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Ban soạn thảo, Tổ Biên tập đã họp nhiều cuộc để bàn về những những bất cập, vướng mắc, những định hướng lớn cũng như các nội dung cụ thể dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai; (vi) xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.

Cơ quan soạn thảo đã hoàn chỉnh dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai theo những chính sách và định hướng sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội, Chính phủ thông qua trong quá trình lập đề nghị xây dựng Luật theo đúng kế hoạch. Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai dự kiến trình Quốc hội Khóa XIV cho ý kiến vào kỳ họp thứ 09 đầu năm 2020, thông qua vào kỳ họp thứ 10 cuối năm 2020 và có hiệu lực từ giữa năm 2021. Tuy nhiên, trong quá trình sơ kết Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Nghị quyết số 19-NQ/TW), tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, qua giám sát tối cao của Quốc hội và thực tiễn thi hành Luật Đất đai, nhiều ý kiến cho rằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai sẽ không giải quyết được căn cơ những vấn đề lớn đặt ra đối với phát triển đất nước, phát huy nguồn lực, nguồn tài nguyên đất đai cho phát triển, giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư, giảm khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai,...

Mặt khác, song song quá trình chuẩn bị dự án Luật sửa đổi một số Điều của Luật Đất đai, trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn phát triển đất nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành đã trình Chính phủ để trình Quốc hội ban hành một số văn bản như Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Nghị quyết số 60/2018/QH14 về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết số 82/2019/QH14 về tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý sử dụng đất tại đô thị; Chính phủ đã ban hành theo thẩm quyền nhiều Nghị định. Các văn bản mới ban hành đã có các quy định giải quyết một số chính sách dự kiến sửa đổi, bổ sung trong dự án Luật, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về đấu thầu, pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng, tháo gỡ căn bản các nút thắt, điểm nghẽn, rào cản trong quá trình thi hành Luật Đất đai,....

Luật Đất đai là đạo luật quan trọng có tác động đến phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, được thể chế trên cơ sở các Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương (Luật Đất đai năm 1987 thể chế hóa tinh thần đổi mới của Nghị quyết Đại hội VI của Đảng; Luật Đất đai năm 1993 thể chế hóa Nghị quyết số 05-NQ/HNTW ngày 10/6/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII); Luật Đất đai năm 2003 thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX); Luật Đất đai năm 2013 thể chế hóa Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)) và quá trình tham vấn rộng rãi ý kiến của Nhân dân, doanh nghiệp để đảm bảo tính ổn định, khả thi, toàn diện và đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên, nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn mới. Từ thực tế đó, mặc dù đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhưng để sửa đổi một cách căn bản, toàn diện, Quốc hội đã quyết định đồng ý lùi thời điểm trình Dự án Luật này đến sau khi có Nghị quyết mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đất đai.

Hiện nay, Chính phủ đang khẩn trương tổng kết đánh giá toàn diện việc thi hành Luật Đất đai và chuẩn bị tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW để trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết mới về chính sách đất đai. Ngay sau khi có Nghị quyết mới của Ban Chấp hành Trung ương, Chính phủ sẽ thể chế hóa và trình Quốc hội Dự án Luật Đất đai sửa đổi toàn diện.

Đồng thời, trên cơ sở đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ đang xem xét ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Nghị định khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp,...để giải quyết ngay những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, các kiến nghị của cử tri..

Hai là, cử tri phản ảnh, hiện nay, sau khi thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân thì hạn mức “đất ở” thấp hơn rất nhiều so với diện tích “đất thổ cư” được ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây. Cử tri thắc mắc, “đất ở” và “đất thổ cư” khác nhau như thế nào? Việc cấp lại hạn mức “đất ở” thấp hơn nhiều so với diện tích “đất thổ cư” đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, giải quyết và trả lời thắc mắc của người dân

Theo quy định về phân loại đất của pháp luật đất đai hiện hành thì không có loại đất thổ cư. Do đó, việc địa phương căn cứ pháp luật đất đai năm 2013 để thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận, xác định diện tích đất ở đối với các Giấy chứng nhận đã cấp có mục đích sử dụng là “đất thổ cư” là cần thiết nhằm bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật hiện hành đồng thời thống nhất trong công tác quản lý đất đai.

Việc xác định loại đất cụ thể theo phân loại đất hiện nay trên các Giấy chứng nhận đã cấp có thể hiện loại “đất thổ cư” cần căn cứ vào thời điểm cấp Giấy chứng nhận và quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy.

Theo quy định tại mục II của Quyết định số 339-VP/ĐKRĐ ngày 27/8/1977 của Tổng cục Thống kê ban hành Danh mục phiếu điều tra và biểu tổng hợp và bản giải thích hướng dẫn cách ghi chép tổng hợp kết quả điều tra đất thì “Cột 10 - Thổ cư: ghi những khu đất để xây cất nhà ở, nhà tắm, nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, đường đi lại, chuồng trại chăn nuôi gia đình”.

Theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành bản quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước thì loại đất khu vực thổ cư là đất xây dựng trong các khu dân cư thành thị và nông thôn, trừ thổ canh, ao hồ, đường đi lại trong thôn xóm đã đo đạc tách ra; bao gồm: đất ở và đất xây dựng các công trình phục vụ lợi ích toàn dân trong các lĩnh vực văn hóa, y tế giáo dục, thể dục thể thao, nghỉ mát, du lịch; các trụ sở cơ quan, đoàn thể, tôn giáo, những kho tàng, cơ sở nông lâm nghiệp như chuồng trại chăn nuôi, trạm sửa chữa...

Theo quy định tại Quyết định số 237/QĐ-LB ngày 03/8/1989 của Liên Tổng cục Quản lý ruộng đất và Tổng cục Thống kê thì loại “Đất khu vực thổ cư” trước đây đã được quy định tách thành các loại “Đất khu dân cư” (gồm Đất ở thành thị và Đất ở nông thôn) và “Đất chuyên dùng” (bao gồm Đất xây dựng, Đất đường giao thông, Đất thủy lợi...).

Theo quy định tại Quyết định số 499-QĐ/ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng cục Địa chính quy định mẫu sổ địa chính, sổ mục kê đất, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai thì loại đất với "mục đích để ở" có ký hiệu bằng chữ "T".

Theo quy định tại Quyết định số 719/1999/QĐ-ĐC ngày 30/12/1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính ban hành về việc ban hành ký hiệu bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000 và 1:5000 thì ký hiệu chữ "T" là đất ở.

 Đề nghị cử tri liên hệ với cơ quan quản lý đất đai ở địa phương để căn cứ hồ sơ cụ thể, giấy tờ, sổ sách lưu trữ tại địa phương, quy định của pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận để xác định cụ thể diện tích đất ở đã được cấp.

Ba là, cử tri kiến nghị cần tăng cường giám sát về tình trạng ô nhiễm môi trường tại các con sông nói chung và với các con sông thuộc khu vực miền Trung - Tây nguyên nói riêng, bởi đa phần các con sông khu vực miền Trung - Tây nguyên không lệ thuộc, bắt nguồn từ bên ngoài, chủ yếu là do tác động của người dân chúng ta. Theo đó, đặc biệt quan tâm giám sát chỉ tiêu cụ thể hằng năm về độ che phủ của rừng; hệ thống xử lý nước thải đối với các khu đô thị, khu công nghiệp - dịch vụ ven sông; việc thực hiện các chế tài và việc xử phạt khi xảy ra vi phạm theo quy định của pháp luật

Bộ Tài nguyên và Môi trường ghi nhận ý kiến của cử tri về việc cần tăng cường giám sát tình trạng ô nhiễm môi trường tại các dòng sông. Trong giai đoạn 2016 - 2019, chất lượng nước tại các dòng sông lớn và các điểm nóng về ô nhiễm môi trường lưu vực sông có xu hướng cải thiện dần theo từng năm. Tuy nhiên, do áp lực của phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn xả thải vào các lưu vực sông lớn ngày càng gia tăng, đặc biệt là tại khu vực trọng điểm, đô thị lớn. Để tăng cường kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường các dòng sông lớn, trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai các giải pháp sau đây:

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nước và hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan về quản lý các nguồn thải và chất lượng môi trường nước bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và hài hòa với luật pháp quốc tế, trong đó, đặc biệt quan trọng là sửa đổi, trình Quốc hội ban hành dự án Luật Bảo vệ môi trường; hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường, hệ thống văn bản quy định về thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là các quy định về cưỡng chế, các biện pháp, chế tài xử lý vi phạm đối với những cơ sở vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước. Bên cạnh đó, cần xây dựng nhóm chính sách, công cụ để tính toán được sức chịu tải của môi trường nước sông làm căn cứ cấp phép xả vào nguồn nước theo khả năng chịu tải, xây dựng hệ thống tiêu chí về môi trường trong thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư, đảm bảo không thu hút công nghệ sản xuất lạc hậu vào Việt Nam.

Rà soát, đánh giá các chiến lược, đề án, dự án, nhiệm vụ lớn thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường nước, đặc biệt là các đề án bảo vệ môi trường các lưu vực sông.

Rà soát các quy hoạch liên quan đến phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường lưu vực sông, đảm bảo không có sự chồng chéo, mâu thuẫn. Triển khai quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia làm cơ sở phân vùng, định hướng đầu tư, phát triển các ngành kinh tế, đảm bảo phù hợp với ngưỡng chịu tải của môi trường. Quy hoạch và phát triển mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia bảo đảm xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo chất lượng môi trường đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương để giám sát chặt chẽ, cảnh báo chất lượng môi trường trên phạm vi cả nước.

Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là năng lực quan trắc môi trường, kiểm soát ô nhiễm, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường nhằm theo dõi và phát hiện kịp thời những khu vực ô nhiễm nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Chủ động, tích cực giải quyết các vấn đề môi trường liên ngành, liên tỉnh, đặc biệt là chương trình phối hợp nhằm kiểm soát ô nhiễm nước sông liên tỉnh vào mùa khô; các hoạt động gây ô nhiễm tại các điểm có nguy cơ ô nhiễm cao như khu vực nuôi trồng thủy sản, khu tiếp nhận nhiều nguồn thải, bến cảng, bến thủy nội địa trên sông... Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý lưu vực sông theo hướng tổng hợp có tính chất liên vùng, liên ngành, thay thế các Ủy ban lưu vực sông trước đây và có đủ thẩm quyền, đủ nguồn lực để giải quyết các vấn đề liên vùng, liên ngành, điều tiết hài hòa lợi ích trong sử dụng và bảo vệ nguồn nước.

Điều tra, đánh giá, phân loại các nguồn thải trên phạm vi cả nước; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn thải. Thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát nguồn gây ô nhiễm môi trường, tập trung vào các nguồn thải lớn (100 m3/ngày.đêm trở lên), có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường. Từng bước quản lý các nguồn gây ô nhiễm nhỏ lẻ, phân tán, các nguồn thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nước mưa chảy tràn qua các khu vực ô nhiễm...

Đẩy mạnh việc lập và cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước tại các địa phương theo quy định tại Nghị định số 43/2015/NĐ-CP; lập danh mục các nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm, cạn kiệt để có giải pháp cải thiện, phục hồi. Thúc đẩy thực hiện các dự án xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt tại các ao, hồ, sông, kênh, rạch trong các đô thị, khu dân cư, làng nghề.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan