Thứ 2, 26/09/2022 - 00:33
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh bất động sản; quản lý chặt chẽ diện tích đất nông nghiệp

Cử tri thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ, ngành Trung ương cần tăng cường công tác quản lý hoạt động kinh doanh bất động sản; quản lý chặt chẽ diện tích đất nông nghiệp, hiện nay tại các tỉnh, thành do việc đô thị hóa quá nhanh dẫn đến việc chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư rất nhiều, ảnh hưởng đến an ninh lương thực.

Về tăng cường công tác quản lý đất đai và kinh doanh bất động sản

Thứ nhất, về thực trạng và nguyên nhân của vấn đề tồn tại Hiện nay, tại hầu hết các địa phương vẫn còn tồn tại tình trạng các dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản chậm triển khai; tình trạng vi phạm tại các dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản quy mô lớn; tình trạng chủ đầu tư rao bán nhà đất thuộc các dự án nhà ở không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc các dự án chưa được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất hoặc các dự án không đủ điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, bán nhà ở... Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao và nhanh chóng, những kẻ lừa đảo dùng thủ đoạn tinh vi để qua mặt cơ quan chức năng và người mua; việc kiểm tra, giám sát của chính quyền địa phương còn lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ đặc biệt là ở cấp cơ sở.

Thứ hai, về các giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án sử dụng đất đặc biệt là các dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản.

Trong thời gian qua, theo phạm vi chức năng được giao quản lý, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Xây dựng (cơ quan được Chính phủ giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng, thị trường bất động sản) cùng với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cơ quan quản lý trực tiếp các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản ở địa phương) thực hiện các giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án sử dụng đất đặc biệt là các dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản:

Năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/2017/CT-TTg nhằm đẩy mạnh thi hành Luật đất đai, chấn chỉnh kịp thời các hạn chế, sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai, nhất là sai phạm tại các dự án sử dụng đất, đặc biệt là các dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 23/4/2019 về một số giải phát thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định, lành mạnh.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ động, tích cực xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về tăng cường xử lý vi phạm đất đai giai đoạn đến 2020 trên phạm vi cả nước. Trong đó có nội dung thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm đối với các dự án khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các dự án kinh doanh bất động sản, các dự án có chuyển mục đích sử dụng đất lúa. Đề án này do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan thanh tra tổ chức thực hiện đồng bộ trên phạm vi cả nước.

Từ khi có Luật Đất đai 2013, hằng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp, chỉ đạo các địa phương rà soát các dự án BĐS có quy mô lớn, các dự án chậm triển khai, kể cả các dự án đã có chủ trương đầu tư nhưng chưa giao đất, cho thuê đất. Từ đó tăng cường xử lý các trường hợp có vi phạm.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, trong đó bổ sung chế tài xử phạt đối với những chủ đầu tư thực hiện các dự án nhưng không thực hiện đầy đủ thủ tục về giao đất cho thuê đất. Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ đề xuất quy định chặt chẽ hơn về trình tự thủ tục liên quan đến giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư thực hiện dự án, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc giám sát quá trình sử dụng đất và quá trình người dân thực hiện các giao dịch đất đai tại địa phương.

Về vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia

Trong thời gian vừa qua Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường rất quan tâm đến vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đã ban hành các văn bản để quản lý vấn đề này, cụ thể:

Ngày 05/8/2009, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 53-KL/TW về Đề án An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020. Thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 63/2009/NQ-CP ngày 23/12/2009 về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu báo cáo Chính phủ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đến 5 năm (2011-2015) của cả nước trình Quốc hội Khóa XIII kỳ họp thứ hai quyết định tại Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011, trong đó có nội dung quy hoạch sử dụng đất trồng lúa đến năm 2020 như sau: Đến năm 2020, đất trồng lúa cả nước có khoảng 3.760,39 nghìn ha (trong đó đất chuyên trồng lúa nước là 3.128,96 nghìn ha), với diện tích đất lúa đến năm 2020 và hệ số sử dụng đất trồng lúa bình quân là 1,95 lần thì diện tích gieo trồng lúa hàng năm vẫn đạt trên 7 triệu ha. Với năng suất bình quân khoảng 60 tạ/ha/năm thì sản lượng lúa đạt 42 triệu tấn/năm, bình quân khoảng 420 kg/người/năm không những vẫn đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia mà còn dành cho xuất khẩu khoảng từ 5 - 6 triệu tấn.

Ngày 31/10/2012, Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và Kết luận số 36- KL/TW ngày 06/09/2018 về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn đang xác định:

(i)  Đất đai được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

(ii) Quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

(iii) Đối với chủ trương về tích tụ, tập trung đất đai đảng ta mới chỉ đạo về vấn đề mở rộng đối tượng, hạn mức nhận chuyển quyền.

(iv) Việc xác định quy mô diện tích, cơ chế quản lý quỹ đất lúa phù hợp vớ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu trong tình hình mới phải trên cơ sở tổng kết Kết luận của Bộ Chính trị khóa IX về Đề án An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2013 và đã có quy định để kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa:

(i) Tại Điều 58 của Luật Đất đai năm 2013 quy định các địa phương phải có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 héc ta đất trồng lúa trở lên trước khi quyết định việc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

(ii) Tại Điều 134 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước phải nộp một khoản tiền để Nhà nước bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa theo quy định của Chính phủ. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa được sửa đổi bởi Nghị định số 62/2019/NĐ-CP 11/7/2019 của Chính phủ.

Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số 134/2016/QH13 ngày 09/4/2016. Trong đó, có nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trồng lúa đến năm 2020 như sau:

Đến năm 2020, đất trồng lúa cả nước còn 3.760,39 nghìn ha, trong đó đất chuyên trồng lúa nước là 3.128,96 nghìn ha. Với hệ số sử dụng đất trồng lúa bình quân là 1,95 lần thì diện tích gieo trồng lúa hàng năm vẫn đạt trên 7 triệu ha và với năng suất bình quân khoảng 60 tạ/ha/năm thì sản lượng lúa đạt 42 triệu tấn/năm, bình quân khoảng 420 kg/người/năm không những vẫn đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia mà còn dành cho xuất khẩu khoảng từ 5 - 6 triệu tấn.

Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến 31/12/2018 đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu báo cáo Chính phủ trình Quốc hội tại Báo cáo số 478/BC-CP ngày 11/10/2019; trong đó, đất trồng lúa của cả nước là 4.120,50 nghìn ha, cao hơn 360,11 nghìn ha so với chỉ tiêu Quốc hội duyệt (3.760,39 nghìn ha). Như vậy, việc giảm diện tích đất trồng lúa sang mục đích phi nông nghiệp để thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, vẫn nằm trong giới hạn Quốc hội cho phép.

Với những quy định và kết quả tổ chức thực hiện nêu trên thì vấn đề an ninh lương thực của nước ta hiện nay vẫn được đảm bảo. Bộ Tài nguyên và Môi trường trân trọng cảm ơn sự quan tâm đóng góp ý kiến của cử tri đối với lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ.


Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan