Thứ 7, 08/08/2020 - 07:45
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng cường hiệu quả công tác quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững

Nhiều cử tri băn khoăn công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn nhiều hạn chế; tình hình cháy nổ, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp (nhất là các vụ tai nạn giao thông do sử dụng rượu bia, ma túy... cần có chế tài xử lý nghiêm minh hơn nữa; cải cách chương trình giáo dục phổ thông còn gây nhiều ý kiến trái chiều trong xã hội; công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được cải thiện (Cử tri tỉnh Vĩnh Phúc).

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động kinh tế của các ngành, lĩnh vực bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ động, tích cực chủ trì, phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, tăng cường hiệu quả công tác quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững, cụ thể:

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và hài hoà với quốc tế, trong đó, tập trung triển khai xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường; xây dựng và ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về quản lý chất thải rắn theo hướng thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn trên phạm vi cả nước; sửa đổi, bổ sung Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; triển khai xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia làm cơ sở phân vùng, định hướng đầu tư, phát triển các ngành kinh tế, đảm bảo phù hợp với ngưỡng chịu tải của môi trường; quy hoạch và phát triển mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia; rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong điều kiện hội nhập quốc tế; xây dựng, hoàn thiện các công cụ kinh tế quản lý có hiệu quả công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo quy định của Luật khoáng sản, Luật tài nguyên nước.

Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường; rà soát, tiếp tục thành lập các Tổ giám sát về bảo vệ môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường cao, bảo đảm không để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng; kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải, nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; tăng cường bảo vệ môi trường các lưu vực sông, cải thiện, phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm; tăng cường năng lực quản trị môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề; rà soát kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu, cụm công nghiệp xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, buộc các đối tượng có quy mô xả thải lớn lắp đặt hệ thống thiết bị kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải theo quy định của pháp luật, truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường.

Tăng cường năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị và nông thôn, trọng tâm là việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn, nâng cao năng lực thu gom, có công nghệ xử lý chất thải rắn phù hợp, chú trọng xây dựng cơ chế để giảm thiểu, quản lý chặt chẽ rác thải nhựa từ đất liền ra đến đại dương; tổ chức triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu về xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc đối tượng công ích giai đoạn 2016 - 2020; Nghị quyết số 09/NQ-CP của Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 1 về thống nhất đầu mối quản lý chất thải rắn.

Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, trọng tâm là các quy định mới như: thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; ưu đãi đối với các hoạt động lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ; xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ nước dưới đất; giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước; xác định dòng chảy tối thiếu trên sông, suối và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng; các định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá... để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới.

Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các vi phạm, đặc biệt là thanh tra đột xuất đối với các vi phạm pháp luật về môi trường, việc vận hành giảm lũ cho hạ du, điều tiết nước trong mùa cạn, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ theo quy trình vận hành liên hồ chứa và trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước; tăng cường tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cộng đồng pháp luật về tài nguyên nước….

Tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hóa nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường (ngân sách nhà nước; các dự án, chương trình tài trợ trong và ngoài nước; Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Quỹ Bảo vệ môi trường của địa phương huy động vốn từ cộng đồng, hợp tác công tư,...). Ưu tiên xã hội hóa, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ cho việc phát triển các công nghệ xử lý, tái chế chất thải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khí hậu và hiện trạng chất thải của nước ta. Có cơ chế đột phá để huy động các nguồn tài chính từ nguồn lực xã hội, bên cạnh các nguồn lực tài chính của nhà nước để phục hồi, xử lý ô nhiễm môi trường, hình thành cơ chế thu - chi trực tiếp từ phí bảo vệ môi trường, xây dựng cơ chế để các nguồn thu từ môi trường phải đầu tư trở lại cho môi trường. Hoàn thiện và triển khai có hiệu quả các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường; có các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm điều chỉnh hành vi tiêu dùng thông qua các công cụ thuế, phí, đặt cọc - hoàn trả, ký quỹ v.v. Xây dựng cơ chế tài chính để tạo điều kiện hình thành các ngành công nghiệp xử lý chất thải, công nghiệp dịch vụ môi trường; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.

Điều phối, giám sát, giải quyết các vấn đề liên vùng, liên ngành trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước; nghiên cứu đề xuất hợp tác chặt chẽ với các nước trong chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới.

Xây dựng hệ thống theo dõi và quản lý diễn biến nguồn nước mặt, nước dưới đất và hoạt động khai thác, sử dụng nước, xả thải vào nguồn nước phục vụ giám sát việc tuân thủ giấy phép tài nguyên nước và công tác chỉ đạo điều hành.

Các Bộ, ngành, địa phương có liên quan tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/CT-TTg và chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Thông báo số 142/TB-VPCP ngày 12/4/2019; các địa phương tiếp tục ban hành quy chế phối hợp trong quản lý, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản (đến nay đã có 45 tỉnh, thành phố ký kết 35 quy chế phối hợp quản lý khoáng sản cát, sỏi lòng sông tại các khu vực giáp ranh); cương quyết xử lý người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép; Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra một số địa phương để xảy ra tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép, gây bức xúc dư luận, kiến nghị xử lý theo quy định.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan