Thứ 6, 15/11/2019 - 15:45
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai

Cử tri tỉnh Quảng Ngãi kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu Chính phủ điều chỉnh, bổ sung một số quy định trên cho phù hợp để thống nhất trong tổ chức triển khai thực hiện.

(1) Về quy định về thông báo thu hồi đất cho từng người sử dụng đất: Theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, Thông tư số 30/2014/TT- BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, thông báo thu hồi đất được ban hành riêng và gửi đến từng người có đất thu hồi. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, cơ quan ra thông báo thu hồi thường ra thông báo thu hồi toàn bộ thửa đất của người dân, nên ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Đề nghị chỉ thông báo thu hồi phần diện tích theo quy hoạch năm trong dự án phải thực hiện, phải thu hồi (được cấp có thẩmquyền phê duyệt quy hoạch chi tiết). Đồng thời quy định cụ thể thời hạn của Thông báo thu hồi đất tối đa 12 tháng (nếu không đền bù, quyết định thu hồi đất thì người dân được thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật đối với thửa đất, tránh trường hợp nhà đầu tư không có nguồn lực, kéo dài thời gian thực hiện dự án ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân).

(2) Về vướng mắc trong triển khai thực hiện Luật đất đai: Hiện nay, việc xác định người sử dụng đất có hay không vi phạm pháp luật đất đai quy định tại Điều 20 và Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP chưa cụ thể, cán bộ chưa thống nhất quan điểm xử lý, cụ thể:

- Trường hợp người sử dụng đất tự khai hoang đất chưa sử dụng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 sử dụng liên tục đến nay, nay phù hợp quy hoạch đất ở thì được cấpGiấy chứng nhận. Như vậy, trường hợp người sử dụng đất (tự khai hoang) trước ngày 15/10/1993 thì có vi phạm pháp luật đất đai hay không.

- Trường hợp nêu trên, nêu áp dụng khoản 1 Điều 20 Nghị định43/2014/NĐ-CP (tức là không vi phạm pháp luật về đất đai) để xử lý thì người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận diện tích đất ở bằng hạn mức công nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất; nêu áp dụng Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP (có vi phạm pháp luật về đất đai) thì vẫn được cấp Giấy chứng nhận những người sử dụng đất phải nộp tiên sử dụng đất đối với phần diện tích được công nhận đất ở.

- Một số trường hợp người sử dụng đất đã được cấpgiấy chứng nhận trước ngày 01/7/2014 để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; trong quá trình sử dụng đất người dân tự ý xây dựng nhà ở trên thửa đất này, thời điểm xây dựng nhà ở được UBND cấp xã xác nhận là trước ngày 01/7/2014, quá trình xây dựng của công dân, UBND xã và các cơ quan quàn lý Nhà nước không phát hiện và không lập các thủ tục xử lý vi phạm pháp luật của công dân. Hiện nay, người dân đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch đất ở đã được duyệt. Như vậy, trường hợp nêu trên có được áp dụng Khoản 3, Điều 22, Nghị định 43/2014/ND-CP xử lý cấp đổi lại giấy chứng nhận là đất ở đối với phần diện tích người sử dụng đất đã xây dựng nhà ở và công trình phục vụ nhà ở hay không. Nêu được cấp giấy chứng nhận thì thẩm quyền ký là UBND cấp huyện hay Sở Tài nguyên và Môi trường.

- Theo quy định tại Điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, thì trường hợp nhà ở xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của của cơ quan cấp có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép xây dựng không ảnh hưởng đến an toàn công trình và nay phù hợp quy hoạch xây dựng đã được cơ quan thẩm quyền phê duyệt; hoặc trường hợp nhà ở thuộc đối tượng phải xin phép xây dựng mà không xin phép (sau ngày 01/7/2006) thì phải có giấy tờ của cơ quan quản lý về xây dựng cấp huyện chấp thuận cho tồn tại nhà ở đó, thì được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 và khoản 11, Điều 15 Nghị định sổ 139/2017/NĐ-CP, thì quy định: "4. Xử phạt đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình sai nội dung giấy phép xây dựng được cấp (trừ trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c Khoản 7 Điều này) đối vớitrường hợp cấp phép xây dụng mới như sau: ...11. Biện pháp khắc phục hậu quả: ...d) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2, khoản 4, khoản 5 (mà hành vi vi phạm đã kết thúc), khoản 6 và khoản 7 Điều này”. Như vậy, căn cứ theo quy định tại Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, thì không được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

Về ý kiến đề nghị chỉ thông báo thu hồi đất đối với phần diện tích của thửa đất theo quy hoạch nằm trong dự án và quy định thời hạn của thông báo thu hồi đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 1 của Mẫu số 07 thông báo thu hồi đất ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp thu hồi một phần diện tích của thửa đất phải có các nội dung về (1) thông tin về người đang sử dụng đất và địa chỉ có đất bị thu hồi; (2) thông tin về thửa đất bị thu hồi: địa chỉ của thửa đất dự kiến thu hồi; diện tích dự kiến thu hồi thuộc thửa đất đó, tờ bản đồ.

Như vậy, quy định về nội dung thông báo thu hồi một phần diện tích của thửa đất đã được quy định rất cụ thể và rõ ràng, việc cơ quan ra thông báo thu hồi toàn bộ thửa đất đối với trường hợp thực tế chỉ thu hồi một phần diện tích của thửa đất là không đúng quy định hiện hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận ý kiến của cử tri và sẽ chỉ đạo cơ quan chuyên môn thực hiện đúng quy định của pháp luật để không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người dân.

Về ý kiến đề nghị đảm bảo quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi khi chưa thực hiện đền bù và thông báo thu hồi đất phải có thời hạn tối đa 12 tháng.

Vấn đề cử tri phản ánh, để đảm bảo tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt cũng như đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, tại khoản 2 Điều 49 của Luật đất đai năm 2013 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch) quy định: “Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồiđất theo kế hoạchđượctiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nêu người sử dụng đất cỏ nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho phép theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị thông báo thu hồi đất phải có thời hạn tối đa 12 tháng để người sử dụng đất được thực hiện các quyền của mình nêu sau thời gian này mà nhà đầu tư không có nguồn lực, kéo dài thời gian thực hiện dự án ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận và nghiên cứu kiến nghị của cử tri trong quá trình hoàn thiện pháp luật về đất đai.

Về phản ánh liên quan đến đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Về kiến nghị áp dụng quy định của pháp luật khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận: Việc xác định người sử dựng đất có hay không có hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần căn cứ vào thời điểm xảy ra hành vi và văn bản ghi nhận hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm xảy ra hành vi để xác định cụ thể. Đồng thời, phải căn cứ vào các giấy tờ, sổ sách về quản lý đất đai do cơ quan Nhà nước lập trước thời điểm xảy ra hành vi để xác định.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; trường hợp không xác định được hành vi vi phạm và người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì áp dụng quy định tại Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để cấp Giấy chứng nhận; trường hợp có cơ sở để xác định hành vi vi phạm pháp luật của người sử dụng đất thì áp dụng quy định tại Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để cấp Giấy chứng nhận.

Về việc cấp Giấy chứng nhận đối vớitrường hợp tự ý xây dựng nhà ở trên thửa đất nông nghiệp: Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 của Luật đất đai thì Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Như vậy các trường hợp người sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày 01/7/2014 để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp thì đã được Nhà nước xác lập mục đích sử dụng đất trên Giấy chứng nhận là đất nông nghiệp.

Theo quy định tại Điều 57 của Luật đất đai thì việc chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở thuộc trường hợp phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Như vậy, việc người sử dụng đất nông nghiệp mà tự ý xây dựng nhà ở trước ngày 01/7/2014 thì thuộc trường hợp tự ý chuyển mục đích sử dụng đất. Việc cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp nảy được áp dụng theo quy định tại Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Về cơ quan ký cấp giấy chứng nhận: theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT được bổ sung tại khoản 15 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT thì đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại điểm n khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 17 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT thì cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thực hiện thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 69 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và chuyểnhồ sơ cho Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai để viết Giấy chứng nhận; trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận.

Về kiến nghị đối với việc chứng nhận quyền sở hữu nhà ở: Việc chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được quy định tại Điều 31 và Điều 70 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, đấy là quy định để áp dụng đối với các công trình là nhà ở và công trình xây dựng không phải là nhà ở được xây dựng theo quy định của pháp luật; đối với các công trình là nhà ở và công trình xây dựng không phải là nhà ở được mà buộc phải tháo dờ theo quy định tại Nghị định số 139/2017/NĐ-CP thì không có cơ sở để chứng nhận quyền sở hữu tài sản.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan