Thứ 7, 25/06/2022 - 17:28
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xây dựng Đề án Điều tra, đánh giá lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa trình Chính phủ về việc xây dựng Đề án Điều tra, đánh giá lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000.

Sự cần thiết xây dựng Đề án Điều tra, đánh giá lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000

Tài nguyên nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý tài nguyên nước cần phải được điều tra theo Quy hoạch hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đã được phê duyệt. 

Theo Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu đến năm 2030 là lập bản đồ địa chất thủy văn cho các tầng, các cấu trúc chứa nước, phức hệ chứa nước và bản đồ tài nguyên nước dưới đất trên phạm vi toàn quốc với tỷ lệ 1:100.000; đánh giá, xác định được các đặc trưng cơ bản của tài nguyên nước mặt; đồng thời lập được bản đồ tài nguyên nước mặt trên phạm vi toàn quốc, trên các lưu vực sông. Việc đánh giá, xác định, cập nhật định kỳ các đặc trưng cơ bản của tài nguyên nước mặt, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:100.000 lãnh thổ Việt Nam là nhiệm vụ ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2025. Đồng thời, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021; Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 21 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, theo đó nhiệm vụ điều tra, đánh giá lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 là nhiệm vụ cấp bách được Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện.

Các thông tin số liệu điều tra, đánh giá tài nguyên nước là nguồn số liệu quan trọng phục vụ công tác quản lý, quy hoạch, bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống tác hại do nước gây ra. Tuy nhiên, công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước còn hạn chế, cho đến nay đạt được một số kết quả sau:

 Về điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt, hiện mới thực hiện điều tra cơ bản được 34,08% sông suối trên phạm vi toàn quốc tập trung chủ yếu một số lưu vực sông lớn, vùng kinh tế với 625 sông suối có chiều dài trên 30km trên phạm vi toàn quốc đang thực hiện (ứng với tỷ lệ điều tra 1:100.000). Cùng với đó, dựa trên số liệu đo đạc tài nguyên nước mặt sẽ đưa vào thực hiện đến năm 2025, dự thảo đề án tổng kiểm kê tài nguyên nước đến năm 2025 đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường dự kiến trình Chính phủ vào tháng 7/2021, các số liệu kiểm kê này đồng thời cũng là số liệu quan trọng phục vụ đánh giá tài nguyên nước. Việc kế thừa kết quả đánh giá tài nguyên nước mặt khoảng 67% đối tượng điều tra, sử dụng lồng ghép số liệu tổng kiểm kê tài nguyên nước, đồng bộ hóa dữ liệu để thực hiện đánh giá tài nguyên nước mặt trên phạm vi toàn quốc rất cần được thực hiện.

Về tài nguyên nước dưới đất, đến nay mới hoàn thành công tác thành lập bản đồ địa chất thủy văn toàn lãnh thổ Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 (năm 1985), biên hội bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 trên toàn quốc (năm 2018), các tỷ lệ điều tra đánh giá nguồn nước dưới đất, lập bản đồ địa chất thủy văn chi tiết hơn (ở tỷ lệ 1:100.000 đến 1:25.000) mới hoàn thành trên 26% diện tích toàn quốc và đang thực hiện trên các vùng lãnh thổ khác với khoảng 23% diện tích toàn quốc. Các kết quả trên cần được kế thừa và thực hiện điều tra bổ sung, đồng bộ hóa dữ liệu tài nguyên nước dưới đất để lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được Đảng và Nhà nước ta xác định là yêu cầu tất yếu khách quan, mang lại cả cơ hội và thách thức cho tất cả các ngành kinh tế-xã hội. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chương trình chuyển đổi số tài nguyên và môi trường đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đòi hỏi lĩnh vực tài nguyên và môi trường nói chung, tài nguyên nước nói riêng phải chuyển đổi từ môi trường truyền thống sang môi trường số, tăng cường áp dụng các giải pháp công nghệ số trong thu nhận, xử lý thông tin, dữ liệu nhằm giảm được chi phí và thời gian, đem lại sản phẩm thông tin, dữ liệu tin cậy, cập nhật, đáp ứng yêu cầu khai thác, chia sẻ trên các nền tảng số và phục vụ cho phát triển kinh tế số, Chính phủ số. Do đó, yêu cầu lập bản đồ tài nguyên nước trên toàn quốc phải đảm bảo áp dụng chuyển đổi số, đồng bộ về thông tin, số liệu; bao quát thống nhất về phạm vi phân chia các nguồn nước trên các vùng lãnh thổ và phản ánh đúng hiện trạng nguồn nước trong giai đoạn hiện nay; thiết lập được hệ thống lưu trữ, quản lý thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước kết nối, trao đổi thông tin, dữ liệu tài nguyên nước với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, phục vụ quy hoạch, quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, toàn diện và hiệu quả cao nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia cho trước mắt và lâu dài, góp phần phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh trước diễn biến của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự suy giảm nguồn nước.

Từ thực trạng điều tra, đánh giá tài nguyên nước, lập bản đồ tài nguyên nước với phạm vi đã được điều tra còn hạn chế, số liệu điều tra cũ đã quá lâu chưa được cập nhật đã nêu, đặc biệt là trước yêu cầu quản lý trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, các thông tin, dữ liệu hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của quản lý, khó có khả năng cung cấp thông tin bao quát, toàn diện cho Chính phủ số trước các thách thức ngày càng tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, khai thác nước ở thượng nguồn và khai thác, sử dụng thiếu bền vững đối với tài nguyên nước của Việt Nam. Trên cơ sở đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy việc thực hiện đề án là rất cần thiết và cấp bách, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh.

Thành lập bộ bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 lãnh thổ Việt Nam và hệ thông lưu trữ quản lý thông tin dữ liệu tài nguyên nước trên nền tảng số

Ông Hoàng Văn Hoan - Trưởng Ban điều tra tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, đơn vị chủ trì thực hiện Đề án cho biết, theo Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu đến năm 2030 là lập bản đồ địa chất thủy văn cho các tầng, các cấu trúc chứa nước, phức hệ chứa nước và bản đồ tài nguyên nước dưới đất trên phạm vi toàn quốc với tỷ lệ 1:100.000; đánh giá, xác định được các đặc trưng cơ bản của tài nguyên nước mặt; đồng thời lập được bản đồ tài nguyên nước mặt trên phạm vi toàn quốc, trên các lưu vực sông. Việc đánh giá, xác định, cập nhật định kỳ các đặc trưng cơ bản của tài nguyên nước mặt, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:100.000 lãnh thổ Việt Nam là nhiệm vụ ưu tiên thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2025.

Theo đó, mục tiêu tổng quát của Đề án là thành lập bộ bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 lãnh thổ Việt Nam và hệ thông lưu trữ quản lý thông tin dữ liệu tài nguyên nước trên nền tảng số phục vụ phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh.

Mục tiêu cụ thể là: Xác định được đặc điểm hình thái, phân bố, số lượng, chất lượng các nguồn nước mặt; đặc điểm phân bố, trữ lượng, chất lượng các nguồn nước dưới đất; đánh giá xu thế diễn biến của tài nguyên nước và khả năng đáp ứng của các nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh; Thành lập được bộ bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 cho các lưu vực sông, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; Thiết lập được hệ thống thông tin dữ liệu về tài nguyên nước bảo đảm sẵn sàng kết nối, trao đổi, chia sẻ dữ liệu quốc gia.

Phạm vi thực hiện của Đề án bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên lãnh thổ Việt Nam. 

Đối tượng thực hiện cụ thể:  Đối với tài nguyên nước mặt: là các sông, suối, kênh, rạch, hồ, đầm, phá, công trình khai thác sử dụng nước mặt trên các lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam; Đối với tài nguyên nước dưới đất: là các thành tạo chứa nước trên toàn bộ diện tích tự nhiên thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của Đề án gồm: Xây dựng bộ công cụ hỗ trợ tác nghiệp số trong công tác điều tra, khảo sát, đánh giá tài nguyên nước; công cụ thu thập, thu nhận, chuẩn hóa, tích hợp, lưu trữ, khai thác thông tin dữ liệu; Thu thập, tổng hợp, chuẩn hóa thông tin, dữ liệu tài nguyên nước và xây dựng hệ thống lưu trữ thông tin phục vụ khai thác dữ liệu số về tài nguyên nước; Điều tra, khảo sát, đo đạc, bổ sung; phân tích, đánh giá tài nguyên nước và khả năng đáp ứng nguồn nước cho các mục đích phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; Biên tập, xây dựng và hoàn thiện bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 lãnh thổ Việt Nam; Tổng hợp kết quả điều tra, đánh giá, lập bản đồ tài nguyên nước của Đề án; kết nối tích hợp, trao đổi thông tin dữ liệu tài nguyên nước với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia.

Sản phẩm của Đề án bao gồm: Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện Đề án “Điều tra, đánh giá, lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 lãnh thổ Việt Nam”; Báo cáo kết quả điều tra, đánh giá lập bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000 cho từng lưu vực sông; các báo cáo chuyên đề, thuyết minh bản đồ theo từng lưu vực sông và theo từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Bộ bản đồ tài nguyên nước tỷ lệ 1:100.000; Bộ bản đồ điện tử (Atlas) tài nguyên nước mặt và nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam, theo từng lưu vực sông và theo từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hệ thống thông tin dữ liệu về tài nguyên nước kết nối, trao đổi với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; Các mô hình đánh giá tài nguyên nước; Phần mềm phục vụ công tác điều tra, khảo sát.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan