Thứ 3, 24/11/2020 - 08:24
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thành tựu đạt được trong thực tiễn quản lý, điều hành lĩnh vực TN&MT

Thực tiễn quản lý, điều hành lĩnh vực TN&MT thời gian qua cho thấy, một trong các thành tựu nổi bật đó là đã đề xuất và tổ chức thực hiện nhiều giải pháp chính sách đã được ban hành để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển với khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường, yêu cầu ứng phó với BĐKH.

Thành tựu đạt được trong thực tiễn quản lý, điều hành lĩnh vực TN&MT thời gian qua, cho thấy, một là, đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, trước hết là thay đổi hành vi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên ngày càng được chú trọng hơn, BVMT đã trở thành nhu cầu bức thiết của xã hội; ứng phó với BĐKH được sự quan tâm, ưu tiên lồng ghép vào trong hệ thống các chính sách và thực tiễn quản lý, điều hành của tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội (KTXH). Hiểu biết của cán bộ, lãnh đạo ở các cấp, các ngành, địa phương và cộng đồng dân cư về BĐKH ngày càng đầy đủ hơn.

Hai là, thiết lập được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Chiến lược, quy hoạch tương đối đồng bộ để bảo đảm thực hiện công tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH. Giai đoạn vừa qua, hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH đã được xây dựng khá đồng bộ và kịp thời; quá trình xây dựng, ban hành bảo đảm thực hiện đúng quy định, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển của đất nước. Các chương trình, đề án, quy hoạch, tiêu chí giám sát, hệ cơ sở dữ liệu từng bước được xây dựng đã góp phần tích cực giúp theo dõi, giám sát, đánh giá các chủ trương của Đảng trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH.

Ba là, nhiều giải pháp chính sách đã được ban hành để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển với khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường, yêu cầu ứng phó với BĐKH. Trong đó, xác định rõ mục tiêu thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, xây dựng nền kinh tế xanh và phát triển bền vững. Đến nay, mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã có những tín hiệu chuyển biến tích cực “từ chiều rộng” sang “chiều sâu”, chú trọng hơn đến chất lượng tăng trưởng, tín hiệu chuyển dịch theo chiều hướng giảm dần sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, chú trọng hơn tới BVMT. Công tác phòng ngừa, kiểm soát, khắc phục ô nhiễm; cải thiện chất lượng, hạn chế tác động do ô nhiễm, suy thoái môi trường đến sức khỏe của nhân dân đã đạt được những kết quả quan trọng. Trên thực tế, đã có nhiều giải pháp, cách thức mới được triển khai thực hiện về ứng phó với BĐKH, phòng tránh thiên tai và bước đầu đạt được những kết quả tích cực, cụ thể:

Đất đai đã từng bước được quản lý, khai thác, sử dụng theo hướng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và bền vững, trở thành nguồn lực quan trọng cho tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, nguồn thu từ đất đai đóng góp 8% thu ngân sách nhà nước và hơn 10% thu ngân sách nội địa hàng năm. Đến nay, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 97,36% diện tích cần cấp giấy; hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đưa vào vận hành 165/713, kết nối liên thông với cơ quan thuế, rút ngắn 1/3-1/2 thời gian thực hiện thủ tục, nhiều thủ tục về giao dịch đất đai như đăng ký thế chấp được thực hiện trong ngày.

Tài nguyên nước được tăng cường quản lý, an ninh nguồn nước được chú trọng bảo đảm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, . Tiềm năng khoáng sản chiến lược, giá trị về địa chất được xác định. Hướng dẫn, đôn đốc các địa phương thực hiện quy định về hạn chế khai thác nước dưới đất; chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. Hoàn thành việc điều chỉnh, bổ sung tất cả các quy trình về vận hành liên hồ chứa phù hợp với thực tiễn, tổ chức giám sát việc vận hành các hồ chứa theo quy trình vận hành liên hồ thời gian thực bằng công nghệ tự động, điều tiết nguồn nước phục vụ đa mục tiêu, giảm thiểu thiệt hại trước tình trạng hạn hán kéo dài. Chính sách thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được ban hành và triển khai trên thực tiễn, góp phần đảm bảo công bằng trong tiếp cận, khai thác, sử dụng các nguồn lực tài nguyên. Đến hết năm 2019, đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước với số tiền hơn 9.354 tỷ đồng (địa phương phê duyệt 213 tỷ đồng), riêng năm 2019 là 1.165 tỷ đồng.

Nguồn lực tài nguyên khoáng sản đã được phát huy trong tiến trình phát triển KTXH; từng bước kiểm soát tình trạng khai thác khoáng sản trái phép. Đến nay, đã xác định nhiều vùng với nhiều loại khoáng sản tiềm năng như: than đồng bằng sông Hồng, urani Quảng Nam, đồng Kon Tum, vàng, thiếc, wolfram và khoáng chất công nghiệp vùng Tây Bắc; phát hiện nhiều di sản địa chất có giá trị, với nhiều nét đặc trưng được ghi danh trên bản đồ địa chất toàn cầu như Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn, Công viên địa chất Non Nước Cao Bằng. Cùng với đó, đã tiến hành các nghiên cứu có giá trị về lịch sử địa chất, tai biến địa chất góp phần dự báo các nguy cơ tai biến địa chất như sụt lún, sạt lở, phục vụ xây dựng bản đồ cảnh báo, cũng như quy hoạch phát triển không gian ngầm. Chính sách đấu giá quyền khai thác khoáng sản, thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được triển khai góp phần chuyển hóa chuyển hóa nguồn tài nguyên khan hiếm, không tái tạo thành nguồn lực và đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng, phát triển chung, tính từ ngày 01/01/2014 đến nay tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được phê duyệt của cả nước là 50.909 tỷ đồng, trong đó riêng năm 2019, Bộ đã phê duyệt với tổng số tiền là 2.381 tỷ đồng. Tổng số tiền đã thu là 24.513 tỷ đồng, trong đó năm 2019 thu là 4.780 tỷ đồng.

Phương thức quản lý môi trường được đổi mới theo hướng chuyển từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa. Chủ động kiểm soát, làm chủ công nghệ giám sát, phòng ngừa ô nhiễm, đảm bảo các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ cao được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động an toàn, đóng góp cho tăng trưởng. Các địa phương đã chú trọng lựa chọn, thu hút các dự án công nghệ cao, dự án có tỷ lệ đầu tư về môi trường lớn, từng bước tiệm cận hài hòa giữa phát triển kinh tế với BVMT, cải thiện chất lượng tăng trưởng. Đến nay, tỷ lệ KCN, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 88,3%, trong đó có 78,9% đã lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động; tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý tăng 5%; tỷ lệ CTR đạt trên 85%; đã có 407/439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý, đạt tỷ lệ 92,71%, 289/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg cơ bản hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm tỷ lệ 66,43%.

Công tác đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tiếp tục được hoàn thiện theo hướng cải cách hành chính, minh bạch hơn, phân cấp cho Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh; các hướng dẫn kỹ thuật đã được xây dựng; số lượng các dự án thực hiện ĐMC và ĐTM được tăng lên. Công tác khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân, hạn chế tác động do ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ của nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định. Quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên đã có những bước tiến bộ đáng kể, bảo vệ nghiêm ngặt loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng; ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại; quản lý rủi ro từ sinh vật biến đổi gen đã được hoàn thiện về pháp lý và tăng cường triển khai trên thực tiễn.

Công tác đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tiếp tục được hoàn thiện theo hướng cải cách hành chính, minh bạch hơn, phân cấp cho Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh và Ban Quản lý các khu công nghiệp thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM; số lượng các chiến lược, quy hoạch thực hiện ĐMC và các dự án thực hiện ĐTM được tăng lên; các hướng dẫn kỹ thuật đã và đang tiếp tục được cập nhật, xây dựng; số lượng các dự án thực hiện ĐMC và ĐTM được tăng lên. Công tác khắc phục ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân, hạn chế tác động do ô nhiễm môi trường đến sức khoẻ của nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định. Quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên đã có những bước tiến bộ đáng kể, bảo vệ nghiêm ngặt và phát hiện được nhiều loài động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm, các giống cây trồng, dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng; ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của sinh vật ngoại lai xâm hại; quản lý rủi ro từ sinh vật biến đổi gen; bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước đã được hoàn thiện về pháp lý và tăng cường triển khai trên thực tiễn.

Các lợi thế của biển được phát huy, góp phần thực hiện mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn. Từng bước thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển để đảm bảo không gian cho cộng đồng. Tập trung chỉ đạo tháo gỡ các vướng mắc về giao khu vực biển, nhận chìm ở biển,... để thúc đẩy khai thác tiềm năng cho phát triển kinh tế biển, các vùng biển. Hình thành và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp gắn với hình thành chuỗi đô thị ven biển, các địa phương có biển đã trở thành khu vực phát triển năng động, thu hút nguồn lực đầu tư, một số tỉnh, thành phố đã trở thành cực tăng trưởng mới như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh,... Các vùng biển, các địa phương có biển đã trở thành khu vực phát triển năng động, thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo động lực phát triển, mở cửa, hội nhập quốc tế, với mức đóng góp vào GDP cả nước đạt trên 60%. Công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển và hải đảo, BĐKH, nước biển dâng được tăng cường.

Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực khí tượng thủy văn thời gian qua đã được đổi mới và có những bước tiến quan trọng, Luật Khí tượng thủy văn được ban hành cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý khí tượng thủy văn được hoàn thiện một bước. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam đã dần tiệm cận vị trí đứng đầu S N, góp phần giảm thiệt hại do thiên tai gây ra cho nền kinh tế. Tăng hạn dự báo cảnh báo mưa lớn, lũ; dự báo sớm các xu thế thời tiết để các Bộ, ngành, địa phương chủ động trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Hoạt động giám sát BĐKH bước đầu được triển khai, cung cấp thông tin, dữ liệu cho công tác ứng phó với BĐKH của quốc gia, các ngành, lĩnh vực. Hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ chuyên dùng của các tổ chức, cá nhân được tăng cường với sự xuất hiện của hàng nghìn trạm quan trắc trong khắp các ngành, lĩnh vực.

Hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác đo đạc và bản đồ, viễn thám đã được hoàn thiện. Luật đo đạc và bản đồ được Quốc hội thông qua, hệ thống các văn bản hướng dẫn thực thi Luật đang được trình Chính phủ. Phối hợp với Bộ ngoại giao hoàn thành công tác kỹ thuật phân giới, cắm mốc tuyến biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2006 - 2019. Hai bên đã ký kết “Hiệp ước bổ sung Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 và Hiệp ước bổ sung năm 2005 giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia”; “Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia”; hai bên đã hoàn thành phân giới, cắm mốc đối với 1.045km đường biên giới đất liền, xây dựng được 315 cột mốc chính, 1.511 cột mốc phụ và 221 cọc dấu để tiến tới mục tiêu hoàn thành 100% khối lượng trên toàn tuyến; góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Chiến lược phát triển viễn thám quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn năm 2040 được Thủ tướng Chính phủ ban hành làm cơ sở cho đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thám trong phát triển KTXH, quản lý tài nguyên, BVMT, giám sát lãnh thổ. Triển khai thực hiện tốt việc giám sát lãnh thổ biển, hải đảo; giám sát môi trường, giám sát biến động về tài nguyên.

Bốn là, từng bước tiếp cận và hoàn thiện công tác quản lý, điều hành trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH phù hợp hơn với tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH, yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế và cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, Kỷ nguyên kinh tế số.

Các cấp độ, các dạng thị trường trong lĩnh vực TN&MT như đất đai, khoáng sản, hàng hóa và dịch vụ môi trường… từng bước được hình thành, tiếp cận dựa trên sự vận hành của các nguyên tắc, quy luật khách quan đối với kinh tế thị trường, đặt trong bối cảnh hội nhập ngày càng mở rộng với kinh tế thế giới và điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.

Vai trò của Nhà nước trong định hướng điều tra cơ bản, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH đã được phát huy; các công cụ dựa vào thị trường bao gồm thuế, phí, lệ phí, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường… đã sớm được vận dụng, cập nhật và sửa đổi theo hướng ngày càng phù hợp, đúng bản chất hơn với các nguyên tắc của thị trường, thông lệ quốc tế. Ngoài ra, các chính sách ưu đãi về đất đai, vốn, lao động, khoa học và công nghệ, lệ phí trước bạ, thuế; cơ chế tài chính đặc thù đã được triển khai, áp dụng theo hướng đa dạng, phù hợp và đúng bản chất, qua đó góp phần đảm bảo công bằng trong xã hội.

Đã hình thành và vận hành tốt mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở một đầu mối tập trung, thống nhất chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước đối với ngành TN&MT. Cùng với đó, đã gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực quản lý với nhau thông qua việc lồng ghép ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách liên quan khác đến triển khai thực hiện nhiệm vụ. Sự phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý có liên quan giữa các Bộ, ngành và địa phương đã được tăng cường; chỉ đạo thực hiện của Bộ với các địa phương được tập trung, thống nhất. Tổ chức bộ máy của ngành TN&MT ở địa phương cũng đã nhanh chóng được thành lập, củng cố, kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định; số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của ngành TN&MT từng bước được nâng cao, dần đáp ứng đòi hỏi của ngành.

Công tác cải cách thủ tục hành chính được tiến hành triển khai mạnh mẽ thông qua việc giảm các bước, quy trình xử lý công việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Kết quả thực hiện cải cách hành chính trong các lĩnh vực thuộc ngành TN&MT đã có sự chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong những năm gần đây. Hoạt động thanh tra, kiểm tra thực thi các quy định pháp luật đã từng bước được tăng cường, đổi mới, giải quyết những vấn đề bức xúc từ thực tiễn; tình trạng nhũng nhiều, gây phiền hà cho nhân dân đã có chiều hướng thay đổi tích cực so với trước đây.

Hệ thống thông tin dữ liệu của ngành đã được cải tiến theo hướng hiện đại và đồng bộ. Chế độ báo cáo thống kê về tài nguyên, môi trường và BĐKH đã được quy định ngày càng đầy đủ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành TN&MT từ Trung ương đến địa phương được coi trọng phát triển, đáp ứng mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử, tăng cường cải cách hành chính.

Năm là, đã chú trọng, tích hợp và lồng ghép vấn đề tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH vào các định hướng lớn, chiến lược về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại vào trong công tác hoạch định và chỉ đạo, điều hành chính sách. Hợp tác, hội nhập quốc tế thuộc các lĩnh vực tài nguyên, môi trường và ứng phó với BĐKH đã được đẩy mạnh, góp phần không nhỏ trong việc huy động nguồn lực, cách tiếp cận mới, phương pháp quản lý mới phù hợp đối với từng lĩnh vực đặc thù trong tiến trình phát triển đất nước.

Tóm lại, giai đoạn vừa qua nguồn lực tài nguyên được quản lý, phân bổ, khai thác và sử dụng dần đi vào chiều sâu và đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế trong bối cảnh thị trường cạnh tranh. Công tác phòng ngừa, kiểm soát, khắc phục ô nhiễm; cải thiện chất lượng môi trường đã chuyển từ bị động sang chủ động và đạt được những kết quả quan trọng. Nhiều giải pháp được triển khai thực hiện, sứ mệnh về ứng phó với BĐKH, phòng chống thiên tai bước đầu đạt được những thành quả tích cực. Đã xây dựng và đang hoàn thiện dần các cơ chế, chính sách về phát triển bền vững kinh tế biển hướng đến Việt Nam sẽ trở thành quốc gia mạnh về biển. Các hoạt động giám sát BĐKH bước đầu được triển khai, cung cấp thông tin, dữ liệu cho công tác ứng phó với BĐKH của quốc gia, các ngành, lĩnh vực. Hoạt động khí tượng thủy văn, viễn thám, đo đạc bản đồ được hoàn thiện về pháp lý, tăng cường nguồn lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phục vụ phát triển KTXH đa ngành, đa mục tiêu.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan