Thứ 6, 05/03/2021 - 02:38
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, đặt môi trường vào vị trí trung tâm của phát triển bền vững

Năm 2020, công tác quản lý môi trường có sự chuyển biến rõ nét, đã tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, đặt môi trường vào vị trí trung tâm của phát triển bền vững.

 

Các kết quả nổi bật trong công tác quản lý môi trường năm 2020 như sau:

Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, đặt môi trường vào vị trí trung tâm của phát triển bền vững, đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của Nhân dân, thiết lập hàng rào kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn để bảo vệ môi trường trước thách thức ngày càng lớn của sự gia tăng các nguồn thải, dân số và các vấn đề môi trương xuyên biên giới. Ban hành Bộ chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chủ động kiểm soát, làm chủ công nghệ giám sát, phòng ngừa ô nhiễm, đảm bảo các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ cao được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động an toàn, đóng góp cho tăng trưởng. Các chỉ số về môi trường có sự chuyển biến: tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý tăng trung bình 6%/năm, nhiều địa phương đã có mô hình xử lý hiệu quả như Nghệ An, Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Cần Thơ, điển hình tại Đồng Nai tỷ lệ rác thải chôn lấp còn 43%; tỷ lệ thu gom xử lý chất thải rắn công nghiệp đạt 90%; tỷ lệ tro xỉ được tái sử dụng đạt trên 50%. tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 89%; số xã đạt tiêu chí chuẩn nông thôn mới về môi trường tăng 8,3%. Thiết lập hệ thống gần 900 trạm quan trắc kết nối trực tuyến với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường; có thể theo dõi trên các thiết bị di động, được kết nối với hệ thống điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để theo dõi diễn biến môi trường phục vụ công tác điều hành. Chỉ số về môi trường nước mặt năm 2019 cho thấy chất lượng tại khu vực thượng nguồn đều duy trì khá tốt, chất lượng nước ở các sông ô nhiễm nghiêm trọng như sông Nhuệ đã được cải thiện hơn. Tạo sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động trong phòng chống rác thải nhựa.

Tổ chức giải quyết thủ tục hành chính, cấp phép, công nhận, chứng nhận  về môi trường: Thực hiện Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1756/QĐ-BTNMT ngày 11/8/2020 về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung.

Kiểm soát các dự án, nguồn thải lớn, có nguy cơ gây sự cố môi trường; tổ chức thực hiện các chương trình, dự án quản lý chất thải, khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường; xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: Tiếp tục duy trì tốt hoạt động giám sát môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố ô nhiễm môi trường cao nhằm bảo đảm an toàn về môi trường trong quá trình hoạt động.

Công tác quản lý chất thải (sinh hoạt, nguy hại, nước thải đô thị, nông thôn…) được triển khai đồng bộ, có lộ trình phù hợp đáp ứng yêu cầu của thực tiễn: Trong thời gian qua, tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, tái chế liên tục tăng; tỷ lệ phải chôn lấp giảm; chất thải nguy hại được kiểm soát, quản lý tốt hơn thông qua việc kiểm soát chặt chẽ nguồn phát, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố “Khẩn trương rà soát các quy hoạch có liên quan đến vị trí, quy mô của các khu xử lý chất thải rắn trên địa bàn để lồng ghép vào quy hoạch tỉnh, phù hợp với định hướng trong quy hoạch vùng, quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia”.

Kiểm soát môi trường các khu vực tập trung nhiều nguồn thải: Các KCN, CCN đã được giám sát, kiểm soát chặt chẽ hơn về môi trường. Trên cả nước có 250/280 (chiếm 89,6%) (tăng 0,6% so với đầu năm 2020) KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong đó có 219/250 (chiếm 87,6%) KCN đã thực hiện đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục. Cả nước hiện có 276/698 (chiếm 40%) CCN có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đề án BVMT; 115 CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong đó 25/115 (chiếm 21,7%) CCN có hệ thống quan trắc tự động nước thải. Làng nghề và nông thôn: Tiếp tục theo dõi, đôn đốc các địa phương xử lý triệt để ô nhiễm tại 47 làng nghề ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng tại Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, có 11/47 làng nghề đã hoàn thành các biện pháp khắc phục ô nhiễm hoặc tự thu hẹp quy mô, chuyển đổi ngành nghề sản xuất, chấm dứt hoạt động và về cơ bản không còn ô nhiễm; 23/47 làng nghề đang triển khai các biện pháp khắc phục ô nhiễm; 13/47 làng nghề chưa triển khai các biện pháp khắc phục ô nhiễm.

Các hoạt động bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học: Tập trung xây dựng Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch hành động quốc gia về Bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2021-2030; phối hợp với các đơn vị trực thuộc Bộ xây dựng hạng mục Kiểm kê đất ngập nước ven biển Việt Nam thuộc Đề án Kiểm kê đất đai năm 2019; xây dựng hệ thống thông tin đa thời gian về đất ngập nước và khu bảo tồn thiên nhiên bằng công nghệ viễn thám phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học; tổng kết thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan