Thứ 2, 12/04/2021 - 13:21
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quản lý chặt chẽ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, đưa các các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào phát triển kinh tế - xã hội, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Năm 2020, Bộ TN&MT đã tập trung chỉ đạo, hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra, trong đó đã  góp phần quản lý chặt chẽ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả, đưa các các nguồn tài nguyên thiên nhiên vào phát triển kinh tế - xã hội, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Tạo lập môi trường thuận lợi, chủ động quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng trong tiếp cận đất đai, chủ để thúc đẩy nguồn vốn đầu tư trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn và chủ động đón làn sóng chuyển dịch đầu tư nước ngoài

Trình Quốc hội thông qua Nghị quyết về thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Tập trung tổng kết thi hành Luật đất đai; xây dựng kế hoạch thực hiện việc tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/12/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trình Chính phủ các Nghị định tháo gỡ vướng mắc trong triển khai thực hiện pháp luật về đất đai. Tập trung triển khai lập quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hướng dẫn các địa phương thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2021 cấp huyện. Báo cáo Chính phủ xem xét, điều chỉnh chỉ tiêu sử dụng đất Khu công nghiệp, đất ở tại đô thị để các địa phương có điều kiện thuận lợi tận dụng thời cơ hội từ chuyển dịch làn sóng đầu tư do tác động của dịch Covid-19. Nguồn thu từ đất trong 11 tháng đầu năm đạt 168 nghìn tỷ đồng.

Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và triển khai đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ban quản lý rừng và các tổ chức sự nghiệp khác, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đề án hoàn chỉnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho các xã biên giới đất liền. Chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt công tác đo đạc, đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, kết quả đến nay, tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận lần đầu đạt trên 97,36% tổng diện tích các loại đất cần cấp. 100% Văn phòng Đăng ký đất đai đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ địa chính, quản lý đất đai. Đưa vào vận hành, quản lý khai thác, sử dụng đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai của 192/707 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 46 tỉnh/thành phố, đưa được 22.674.662 thửa đất và 11.695.270 hồ sơ quét vào CSDL đất đai để quản lý, khai thác sử dụng.

Tập trung thực hiện các giải pháp phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn và quản lý, sử dụng bền vững, đảm bảo an ninh nguồn nước

Triển khai lập Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tổng hợp các lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Sê San, Srêpok, Cửu Long thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050; lập nhiệm vụ Quy hoạch tổng hợp 08 lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước liên tỉnh còn lại thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; hoàn thiện Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước toàn quốc. Trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số 82/2017/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước. Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại các dòng sông lớn. Thực hiện các quy trình vận hành liên hồ chứa, điều tiết nước các hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên từng lưu vực sông để bổ sung nước cho hạ du, phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Cung cấp các kết quả điều tra nguồn nước ngầm để khai thác giải quyết nhu cầu nước sinh hoạt cho người dân vùng hạn mặn; đồng thời nghiên cứu, đề xuất giải pháp trữ nước cho đồng bằng sông Cửu Long Đã. Xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống thông tin giám sát tài nguyên nước nhằm kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các tổ chức, cá nhân. Đổi mới, hoàn thiện quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính.

Tập trung triển khai, thực hiện việc cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho các tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất. Tiếp tục triển khai Nghị định về thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; tập trung triển khai thực hiện việc cấp quyền khai thác tài nguyên nước cho các tổ chức cá nhân đã được cấp giấ phép khai thác sử dụng nước mặt nước dưới đất. Số thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2020 của cả nước đạt 10.337 tỷ đồng.

Tập trung công tác điều tra cơ bản, hoàn thiện hành lang pháp lý cho quản lý tài nguyên khoáng sản theo cơ chế thị trường

Bộ đã trình Chính phủ đã ban hành 02 Nghị định 23/2020/NĐCP ngày 24/02/2020 quy định quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông; 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 về quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản để thay thế Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017. Trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định về quản lý khoáng sản ở khu vực dự trữ để phát triển các dự án trên mặt; Nghị định thay thế Nghị định số 22/2012/NĐ-CP về đấu giá quyền khai thác khoảng sản. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án lập nhiệm vụ Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Đề án đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản khu vực Trung Bộ; ban hành quyết định Điều chỉnh Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chỉ thị số 38/CT-TTg ngày 29/9/2020 về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản. Triển khai thực hiện Nghị quyết số 101/2019/QH14 về kỳ họp thứ 8 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về việc miễn tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên nước; đề án Điều tra tổng thể về khoáng sản vùng Tây Bắc phục vụ quy hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội. Tổ chức triển khai các đề án điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản.

Thực hiện phê duyệt kết quả tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với 28 hồ sơ với tổng số tiền là 806 tỷ đồng, số tiền nộp lần đầu trên 300 tỷ đồng. Tổ chức đấu giá thành công 02 khu vực quặng chì kẽm trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 11 tháng đầu năm 2020 đạt 5.314 tỷ đồng. Cươ bản hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được phê duyệt, ban hành 41 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính xử phạt 8.426 triệu đồng.

Hoàn thiện hành lang pháp lý cho quản lý tài nguyên biển, tăng cường công tác nghiên cứu biển

Trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 về Kế hoạch Tổng thể và Kế hoạch 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII số 36/NQ-TW ngày 22/10/2018 về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Xây dựng Nghị định quy định về thế chấp, cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân được giao để nuôi trồng thủy sản; hỗ trợ, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi khu vực biển vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng. Thực hiện lập Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được Chính phủ phê duyệt; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ của quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Triển khai các đề án, dự án, nhiệm vụ thuộc Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản biển và hải đảo đến năm 2030. Khảo sát đánh giá tàu nghiên cứu khoa học biển do Nhật Bản trao tặng. Xây dựng Đề án tăng cường năng lực kiểm định, hiệu chuẩn thiết bị nghiên cứu, điều tra cơ bản biển và hải đảo. Phát huy các lợi thế về tài nguyên biển, vùng ven biển để thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trở thành khu vực phát triển năng động với mức đóng góp trên 60% GDP cả nước với nhiều động lực tăng trưởng như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Ninh Thuận, Bình Thuận...


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan