Thứ 6, 30/09/2022 - 17:07
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phương hướng, nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2021

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cần tập trung thực hiện một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường

Triển khai xây dựng các văn bản hướng dẫn sau khi Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) được thông qua. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy định về bảo vệ môi trường để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các xung đột, tranh chấp về môi trường gây mất ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội. Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý chất thải rắn theo hướng thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn trên phạm vi cả nước và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn.

Triển khai thực hiện Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 ngay sau khi được ban hành.

Tăng cường huy động nguồn lực, sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Tiếp tục rà soát, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BVMT từ Trung ương đến địa phương trong tình hình mới, tiến tới hình thành mô hình quản lý phù hợp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với BVMT, đặc biệt là tại địa phương. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý môi trường các cấp. 

Ưu tiên xã hội hóa, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ cho việc phát triển các công nghệ xử lý, tái chế chất thải, xử lý ô nhiễm môi trường phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khí hậu và đặc thù của chất thải, ô nhiễm môi trường của nước ta. Xây dựng cơ chế đột phá để huy động các nguồn tài chính từ các thành phần kinh tế, trong xã hội nhất là đầu tư theo hình thức đối tác công tư; cơ chế tạo nguồn thu từ môi trường để đầu tư trở lại cho BVMT.

Ban hành chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững thông qua việc thúc đẩy các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế ít phát thải các-bon, đầu tư vào vốn tự nhiên.

Tăng cường, nâng cao hiệu quả áp dụng các công cụ hành chính – kỹ thuật trong phòng ngừa, kiểm soát các nguồn ô nhiễm

Tiếp tục đổi mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của các công cụ ĐMC, ĐTM, giấy phép về môi trường, tập trung điều chỉnh các đối tượng tác động lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao theo hướng kết hợp xem xét các yếu tố nhạy cảm, khả năng chịu tải của môi trường và các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nguồn ô nhiễm của dự án, hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là các giải pháp công nghệ. 

Áp dụng hệ thống các tiêu chí đánh giá, sàng lọc, lựa chọn ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường. Khoanh vùng các đối tượng chính gây ra những vấn đề môi trường bức xúc để chủ động kiểm soát chặt chẽ.

Thúc đẩy xây dựng, hoàn thiện hạ tầng thu gom, xử lý nước thải của các KCN, CCN, khu đô thị, khu dân cư tập trung, làng nghề; tăng cường quản trị môi trường trong các khu, cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Tăng cường biện pháp giám sát kỹ thuật (lắp đặt các thiết bị ghi lại hình ảnh, lấy mẫu quan trắc tự động và các biện pháp kỹ thuật khác); tiếp tục mô hình tổ giám sát đối với dự án, cơ sở sản xuất lớn, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường cao; hoàn thiện mô hình, nhân rộng việc thực hiện tại các địa phương trên phạm vi cả nước.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật về BVMT, tập trung vào các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; tăng cường kiểm tra, thanh tra đột xuất, thực hiện thanh tra thường xuyên về BVMT theo quy định của Luật Thanh tra.

Duy trì, phát huy hiệu quả của đường dây nóng tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường của trung ương và địa phương, mở rộng hệ thống đường dây nóng đến cấp huyện nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc gây ô nhiễm môi trường ngay từ cơ sở.

Tăng cường năng lực quản lý, nâng cao hiệu quả xử lý CTR, nhất là CTR sinh hoạt

Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng và tổ chức thực hiện đề án về tăng cường năng lực quản lý CTR sinh hoạt, quản lý rác thải nhựa ở Việt Nam. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 20/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa.

Triển khai thí điểm và nhân rộng các mô hình quản lý tổng hợp CTR; mô hình phân loại tại nguồn, phân loại tập trung rác thải sinh hoạt kết hợp tái chế, thu hồi vật chất, năng lượng từ CTR; hướng dẫn quy trình thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ.

Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất đối với sản phẩm, hàng hóa sản xuất, nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường; tiếp tục hỗ trợ các hoạt động thu gom, phân loại, tái chế rác thải sinh hoạt.

Tăng cường các biện pháp quản lý, cải tạo và phục hồi chất lượng môi trường

Xây dựng và thực hiện Đề án cải thiện chất lượng môi trường không khí tại các thành phố lớn (Tp. Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh) và vùng phụ cận.

Thực hiện dự án tăng cường năng lực quan trắc và cảnh báo ô nhiễm tại các vùng kinh tế trọng điểm, khu tập trung nhiều nguồn thải và khu vực nhạy cảm về môi trường; tăng cường quan trắc, thông tin về diễn biến chất lượng môi trường nước các lưu vực sông, hồ, vùng biển ven bờ; chất lượng không khí trong các đô thị lớn; ô nhiễm xuyên biên giới, nhất là trên các lưu vực sông Hồng, sông Mê Công.

Rà soát, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại các dòng sông lớn. Điều tra, đánh giá, lập bản đồ ô nhiễm nguồn nước LVS; thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về các nguồn thải ra lưu vực sông; tăng cường các biện pháp giám sát, kiểm soát các nguồn thải ra LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống Bắc – Hưng – Hải, Vu Gia – Thu Bồn, Sài Gòn – Đồng Nai và các dòng sông đã bị ô nhiễm trên phạm vi cả nước; thực hiện các giải pháp khơi thông dòng chảy, xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường nước trên các dòng sông đã bị ô nhiễm.

Điều tra, đánh giá, lập danh mục các khu vực đất ô nhiễm thuộc đối tượng quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP và đề xuất kế hoạch xử lý, cải tạo phục hồi môi trường. Thực hiện kiểm soát dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chất hữu cơ khó phân hủy, dioxin trong môi trường theo quy định của pháp luật. Thúc đẩy thực hiện công tác xử lý triệt để điềm nóng tồn lưu chất độc hóa học/dioxin khu vực sân bay Biên Hòa, xử lý chất độc hóa học/dioxin ở khu vực sân bay A Sho, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tăng cường bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật Đa dạng sinh học; kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Thí điểm thực hiện điều tra, đánh giá, quan trắc, giám sát đa dạng sinh học theo hệ sinh thái; xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước; thành lập mạng lưới các khu Ramsar tại Việt Nam; ban hành danh mục vùng đất ngập nước quan trọng; đề xuất nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái LVS Mekong…

Tiếp tục thúc đẩy việc khoanh vùng bảo tồn, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học theo quy định của pháp luật về BVMT, đa dạng sinh học và pháp luật có liên quan; tăng cường năng lực quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; xây dựng khuôn khổ chính sách và pháp lý bảo tồn, bảo vệ các khu vực đa dạng sinh học cao, bảo vệ, bảo tồn các giá trị sinh thái của thiên nhiên, môi trường tự nhiên.

Đẩy mạnh khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, thúc đẩy các mô hình, điển hình về BVMT

Tận dụng có hiệu quả các thành tựu về khoa học công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong công tác quản lý môi trường; trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính, đồng bộ hóa, hiện đại hóa hệ thống thông tin, dữ liệu về môi trường. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ có hiệu quả sự hỗ trợ của quốc tế trong công tác BVMT; nghiên cứu, kiến nghị cơ chế cử cán bộ đại diện ngoại giao về môi trường tại các nước.

Đẩy mạnh thực hiện các chương trình truyền thông về tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế ít chất thải, các bon thấp theo hướng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, các vùng miền; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động đào tạo, truyền thông về môi trường. 

Thực hiện chương trình truyền thông mạnh mẽ để tạo thành phong trào rộng lớn trong toàn dân người dân tham gia BVMT, nhất là trong phân loại rác thải tại nguồn, hạn chế sử dụng nhựa, túi nilon khó phân hủy, sử dụng một lần.

Phát hiện, nêu gương, tạo được phong trào, nhân rộng các điển hình, khu vực, mô hình, cách làm hay, tốt về môi trường; thúc đẩy các nhân tố tích cực, điểm sáng, khu vực, địa bàn, lĩnh vực điển hình về môi trường nhằm tạo sự chuyển biến tích cực, giảm dần, thu hẹp các địa bàn, loại hình, đối tượng gây ô nhiễm, tác động xấu lên môi trường.


Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan