Thứ 7, 24/10/2020 - 15:30
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phản ánh về một số vướng mắc, mâu thuẫn liên quan tới pháp luật về môi trường

Thực hiện Quyết định số 209/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ và phân công của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành kế hoạch để triển khai thực hiện. Hiện nay, qua rà soát, số lượng văn bản quy phạm pháp luật các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tcó hơn 600 văn bản thuộc thẩm quyền ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, do vậy, cần có thời gian để rà soát và xin ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan. Liên quan tới lĩnh vực môi trường, bước đầu, Bộ đã tổng hợp được một số nhóm thông tin, phản ánh vướng mắc chính.

Chưa thống nhất về thủ tục đánh giá tác động môi trường quy định tại Luật Đầu tư và Luật Bảo vệ môi trường

Khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định theo hướng quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án trong trường hợp pháp luật quy định dự án phải quyết định chủ trương đầu tư. Điều 22 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định các nội dung chính cửa báo cáo ĐTM. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều dự án chưa thể thực hiện được các nội dung này trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi phục vụ quyết định chủ trương đầu tư, mà chỉ thực hiện được trong giai đoạn nghiên cứu khả thi.

Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, trong hồ sơ dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ khi xin chấp thuận chủ trương đầu tư phải có nội dung “Đánh giá sơ bộ tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường”. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không quy định về đánh giá sơ bộ tác động môi trường.

Chồng lấn về vấn đề cấp phép xả thải ra nguồn nước quy định tại Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy lợi và Luật Bảo vệ môi trường

Luật Tài nguyên nước quy định việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, Luật Thủy lợi quy định việc cấp phép xả nước thải vào công trình thủy lợi với mục tiêu chung là bảo đảm chất lượng nước thải xả ra ngoài môi trường (trong đó có công trình thủy lợi) đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định một số loại hình dự án phải có Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành, Giấy phép xử lý chất thải nguy hại, Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, trong đó có các nội dung về xác nhận công trình xử lý nước thải, quy chuẩn xả thải, tần suất quan trắc nước thải (đối với đối tượng có hoạt động xả thải ra ngoài môi trường).

Thực tế triển khai các Luật này trong thời gian qua cho thấy có sự chồng lấn, chưa thống nhất về yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền đối với quy chuẩn kỹ thuật áp dụng, thông số quan trắc, tần suất quan trắc nước thải tại các giấy phép, giấy xác nhận của 01 cơ sở. Đồng thời, riêng 01 hoạt động xả thải của doanh nghiệp chịu sự quản lý của ít nhất là 02 cơ quan cấp phép.

Chưa thống nhất về điều kiện kinh doanh sản phẩm xử lý chất thải quy định tại Luật Chăn nuôi, Luật Đầu tư và Luật Bảo vệ môi trường

Điều 62 và Điều 63 của Luật Chăn nuôi quy định về quản lý sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, cơ sở sản xuất sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi. Pháp luật về bảo vệ môi trường quy định điều kiện kinh doanh đối với ngành nghề kinh doanh chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải và cơ chế quản lý đối với chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải. Như vậy, nếu 01 doanh nghiệp kinh doanh chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải, trong đó sản phẩm này có thể xử lý được chất thải trong chăn nuôi thì vừa phải đáp ứng điều kiện kinh doanh theo Luật Chăn nuôi, vừa phải đáp ứng điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Đồng thời sản phẩm kinh doanh vừa phải công bố hợp quy theo quy định của Luật Chăn nuôi, vừa phải đăng ký lưu hành theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Do thực tế triển khai việc cấp Giấy chứng nhận lưu hành chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải tại Việt Nam thời gian qua chủ yếu là hoạt động khảo nghiệm, đánh giá hiệu quả của chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải do các chế phẩm sinh học được nghiên cứu, sản xuất để phục vụ hoạt động xử lý chất thải, góp phần giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nên chưa phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư.

Chồng lấn trong quy định về thủ tục liên quan đến ứng phó sự cố hóa chất tại Luật Bảo vệ môi trường và Luật Hóa chất

Khoản 4 Điều 36 Luật Hóa chất quy định: “Chủ đầu tư dự án hoạt động hóa chất thuộc Danh mục quy định tại Khoản 1 Điều 38 của Luật này phải xây dựng Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất và trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; chỉ được đưa dự án vào hoạt động sau khi Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất đã được phê duyệt”. Trong khi đó Điểm a khoản 1 Điều 108 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải lập kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường”. Do đó dẫn đến 01 dự án có hoạt động, chủ đầu tư sẽ phải lập kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, lập Kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất, trong khi 02 kế hoạch này có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là các sự cố môi trường do hóa chất gây ra.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan