Thứ 6, 05/03/2021 - 01:13
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngành tài nguyên và môi trường đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chỉ đạo tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác năm 2020 của ngành TN&MT: “Quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên cho phát triển đất nước, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường; Kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường, không để xảy ra sự cố môi trường; Chủ động ứng phó với biến đổi cho phát triển bền vững”. Bám sát chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Ngành đã triển khai chủ động, có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, góp phần trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 

Để thực hiện mục tiêu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 12, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nêu rõ yêu cầu đặt ra với ngành tài nguyên và môi trường trong năm 2020 và những năm tiếp theo là: “Quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên cho phát triển đất nước, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường; Kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường, không để xảy ra sự cố môi trường; Chủ động ứng phó với biến đổi cho phát triển bền vững”.

Triển khai chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, ngành tài nguyên và môi trường đã tập trung thực hiện 8 nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật, đảm bảo đồng bộ, minh bạch, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường để khơi thông, giải phóng tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Trong đó trọng tâm là sửa đổi chính sách pháp luật về đất đai; sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường đảm bảo phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đưa môi trường cùng với kinh tế - xã hội là ba trụ cột trung tâm của phát triển.

Đồng thời, thực hiện tổng kết, đánh giá Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật Khí tượng thủy văn, Luật Đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp với các địa phương để kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện liên thông, đảm bảo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tiếp cận nguồn lực tài nguyên.

Hai là, tập trung điều tra, kiểm kê, thống kê các nguồn tài nguyên thiên nhiên; triển khai công tác lập Quy hoạch sử dụng đất, Quy hoạch không gian biển quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch ngành để trình phê duyệt. 

Khắc phục được tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu khả thi, không sát với thực tiễn. Quy hoạch đất đai cần phải đảm các định hướng lớn của quốc gia như vấn đề an ninh lương thực, môi trường sinh thái, định hình không gian phát triển của đất nước với tầm nhìn dài hạn; kết nối với quy hoạch không gian biển để tạo sự liền mạch, phát huy tiềm năng thế mạnh của biển cho phát triển bền vững, mở cửa hội nhập; phải quản lý tốt không gian ngầm và chiều cao.

Ba là, tập trung trong công tác quản lý tài nguyên đất, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên biển. Trong đó, với tài nguyên đất, tập trung triển khai kiểm kê quỹ đất của toàn quốc; hoàn thành dứt điểm việc rà soát, xử lý đất đai của các công ty nông, lâm nghiệp; giải quyết căn bản tình trạng lãng phí, sử dụng đất sai mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai; đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu, kết nối liên ngành, thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến về đất đai, nâng cao chỉ số tiếp cận đất đai...

Kiểm kê, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước; tiếp tục đổi mới quản trị tài nguyên nước quốc gia; sớm hoàn thành việc lập Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và các lưu vực sông liên tỉnh; nghiên cứu, đề xuất ngay các giải pháp tổng thể để tăng cường khả năng trữ nước, trước mắt ưu tiên những vùng thường xuyên bị hạn hán, xâm nhập mặn...

Cùng với đó, tập trung nguồn lực để triển khai chiến lược phát triển kinh tế biển; làm tốt công tác quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng, đô thị, du lịch và khu kinh tế, khu công nghiệp vùng bờ kết nối với quy hoạch không gian biển. Quản lý chặt chẽ hành lang bờ biển, bảo vệ các hệ sinh thái biển; ngăn ngừa, giảm lượng rác thải nhựa, kiểm soát ô nhiễm môi trường, nhằm giảm các tác động tiêu cực, gia tăng sức khỏe và khả năng chống chịu của biển...

Tập trung điều tra khoáng sản ở các vùng có nhiều tiềm năng, các khoáng sản chiến lược. Tăng cường quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản theo quy hoạch, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu phát triển, bảo vệ môi trường. Nghiên cứu, điều tra tai biến địa chất phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phòng tránh các nguy cơ sạt lở, sụt lún...

Bốn là, hành động quyết liệt để tạo chuyển biến căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ với môi trường. Trước hết, phải hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, tăng cường trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà sản xuất, người gây ô nhiễm; rà soát, hoàn thiện các quy trình, quy chế ứng phó sự cố môi trường để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, đảm bảo khắc phục nhanh, hiệu quả khi có sự cố.

Đồng thời, thiết lập cơ chế sàng lọc dự án từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, phòng ngừa, giảm thiểu, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm; bảo vệ các khu vực nhạy cảm về môi trường; tập trung xử lý các cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thực hiện di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh có nguy cơ ô nhiễm ra khỏi đô thị, khu dân cư; tuyên truyền tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về bảo vệ môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trở thành nếp sống, văn hóa trong cộng đồng dân cư...

Năm là, tiếp tục ưu tiên nguồn lực, tập trung triển khai các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Cần sớm hiện đại hóa, hoàn thiện hệ thống trạm khí tượng thủy văn, hệ thống cảnh báo thiên tai. Đây phải được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, Bộ Tài nguyên và Môi trường phải tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức quốc tế khẩn trương đẩy mạnh hoàn thiện chính sách pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu; nghiên cứu, đề xuất được các giải pháp ứng phó hiệu quả phù hợp với điều kiện của từng vùng để thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất quy mô lớn, quy hoạch dân cư để thích ứng...

Sáu là, tập trung hoàn thiện hạ tầng không gian địa lý, tích hợp dữ liệu các nền tảng trong ứng dụng thành tựu cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0. Trong đó tập trung xây dựng hạ tầng không gian địa lý, phát triển ngành đo đạc, bản đồ; phát triển hạ tầng không gian quốc gia, áp dụng công nghệ số trong lĩnh vực này; ứng dụng mạnh công nghệ viễn thám trong giám sát và quản lý tài nguyên môi trường.

Bảy là, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm nhằm nâng hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Đặc biệt là công tác tiếp dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở ngay từ cấp cơ sở không để phát sinh thành các điểm nóng phức tạp trong năm diễn ra nhiều sự kiện của đất nước.

Tám là, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ, khoa học nghiên cứu, công chức, viên chức trong hệ thống ngành tài nguyên và môi trường để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Ngành.

 

Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) sẽ góp phần tháo gỡ cải cách thủ tục hành chính. Bên cạnh đó tạo ra những bộ lọc nâng cao quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường để ngăn chặn những dòng công nghệ, dự án đầu tư lạc hậu; làm tốt công cụ quản lý kinh tế thay cho bằng mệnh lệnh; tập trung vào giải quyết các vấn đề cấp bách hiện nay như vấn đề ô nhiễm không khí, chất thải rác thải sinh hoạt đô thị và nông thôn. Như vậy vấn đề bức xúc nhất sẽ được đặt ra như là xem xét các phương án cụ thể trong vấn đề sửa đổi Luật. Tiếp tục nâng cao hơn nữa vai trò quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đặc biệt là đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Quy hoạch đất đai được nhìn nhận toàn bộ định hình phát triển của các nhu cầu phát triển trong xã hội, của các ngành. Trong quy hoạch phải đưa ra không gian định hướng tiếp tục phát triển, nhưng không khai thác quá mức các nguồn lực tài nguyên và có những định hướng quản lý không gian phát triển cho nhiều thế hệ.  

Đặc biệt ngành tập trung xây dựng quy hoạch sử dụng tài nguyên nước, quy hoạch sử dụng không gian biển. Đây là các quy hoạch quan trọng liên quan đến quy hoạch tích hợp không gian, quy hoạch vùng và các quy hoạch ngành khác…


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan