Thứ 3, 29/09/2020 - 03:02
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đất đai

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và tổ chức triển khai thực hiện các quy định về giới trong các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai.

 

Luật Đất đai năm 2013 quy định nội dung bắt buộc ghi tên cả vợ và chồng trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp tài sản là của chung cả vợ và chồng, trong đó tại khoản 4 Điều 98 quy định “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người”. Đối với trường hợp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi tên vợ hoặc chỉ ghi tên chồng, pháp luật đất đai đã điều chỉnh để tạo sự công bằng và khắc phục những tồn tại đã có. Cụ thể tại khoản 4 Điều 98 quy định “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu”.

Nội dung trên cũng được Chính phủ quy định chi tiết thực hiện việc cấp đổi Giấy chứng nhận đối với trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi tên vợ hoặc chỉ ghi tên chồng mà nay có yêu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận để ghi cả tên vợ và tên chồng (điểm d khoản 1 Điều 76 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP).

Để hướng dẫn các địa phương thể hiện nội dung tên người sử dụng đất đối với trường hợp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của hai vợ chồng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 trên trang 1 của Giấy chứng nhận “trường hợp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của hai vợ chồng thì ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân, địa chỉ thường trú của cả vợ và chồng như quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này”.

Thực hiện các quy định pháp luật nêu trên, tính đến nay, theo số liệu các địa phương báo cáo với Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân là 24,69 triệu Giấy chứng nhận (hộ gia đình là 15,07 triệu Giấy chứng nhận, cá nhân là 5,01 triệu Giấy chứng nhận, cả vợ và chồng là 4,6 triệu Giấy chứng nhận), trong đó có 15,68 triệu Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm tỷ lệ 63,5%). Cụ thể như sau:

Vùng Miền núi phía Bắc: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 4,79 triệu Giấy chứng nhận, trong đó 2,98 triệu Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 62%).

Vùng Đồng bằng Bắc Bộ: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 4,16 triệu Giấy chứng nhận, trong đó có 2,94 triệu Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 71%).

Vùng Bắc Trung Bộ: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 5,24 triệu Giấy chứng nhận, trong đó có 4,01 triệu Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 76%).

Vùng Nam Trung Bộ: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 1,65 triệu Giấy chứng nhận, trong đó có 862.529 Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 52%).

Vùng Tây Nguyên: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 2,48 triệu Giấy chứng nhận, trong đó có 1,62 triệu Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 65%).

Vùng Đông Nam Bộ: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 809.269 Giấy chứng nhận, trong đó có 527.117 Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 65%).

Vùng Tây Nam Bộ: Tổng số Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân và vợ chồng là 5,54 triệu Giấy chứng nhận, trong đó có 2,73 triệu Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ (chiếm 49%).

Việc cấp Giấy chứng nhận mang tên cả vợ và chồng đã có những tích cực hơn trong việc quản lý như: tránh được các khiếu nại, khiếu kiện khi giải quyết các tranh chấp, từng bước đảm bảo quyền phụ nữ nói riêng và quyền của người sử dụng đất nói chung, làm minh bạch trong quan hệ sử dụng đất đai, tạo điều kiện để người phụ nữ được chủ động tham gia các hoạt động về kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo; giải quyết được các mâu thuẫn nội tại gia đình, góp phần nâng cao vị thế, trách nhiệm của người phụ nữ trong các giao dịch về đất đai và tài sản gắn liền với đất như: chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế thế chấp, ...

Giấy chứng nhận mang tên cả vợ và chồng đảm bảo cho phụ nữ và nam giới được bình đẳng với nhau, bảo vệ quyền của phụ nữ, đặc biệt đối với phụ nữ tại các khu vực khó khăn, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực miền núi, hảo đảo (khu vực mà người phụ nữ dễ bị xâm phạm về quyền). Trong trường hợp có vấn đề phát sinh về quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận mang tên cả vợ và chồng sẽ bảo vệ được quyền lợi chính đáng của các đối tượng có liên quan; góp phần tạo sự bình đẳng nam, nữ nói chung và trong việc tiếp cận sử dụng đất đai nói riêng; quy định này còn tạo ra sự đồng thuận trong xã hội về việc bảo vệ quyền của phụ nữ đối với tài sản là nhà, đất. Bên cạnh đó, phụ nữ là lực lượng chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, khi họ được bình đẳng với nam giới về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất đai sẽ tạo ra động lực tích cực giúp phụ nữ hăng say sản xuất góp phần đáng kể vào quá trình đẩy nhanh giảm tỷ lệ đói, nghèo. Ngoài ra, quy định này giúp quyền bình đẳng giới trong sử dụng đất được nâng cao và được tôn trọng góp phần giảm thiểu sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ; các mâu thuẫn, xung đột trong gia đình được giải quyết ổn thỏa góp phần tạo nền móng vững chắc để duy trì sự ổn định của xã hội; giảm tranh chấp về đất đai góp phần giữ gìn trật tự xã hội, truyền thống, phong tục tập quán; nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình, họ có tiếng nói trong quá trình ra quyết định, tham gia nhiều hơn vào các quyết định trong gia đình và từ đó họ cũng mạnh dạn hơn khi tham gia vào các công việc cộng đồng, xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ đối với trường hợp có chung quyền sử dụng đất; tạo điều kiện cho người phụ nữ được làm chủ đất đai, hạn chế lệ thuộc vào nam giới, vai trò giới được nâng cao, phát huy, tạo điều kiện để người phụ nữ thoát được đói nghèo và phát triển bản thân.

Giấy chứng nhận có tên người phụ nữ góp phần tăng tiếp cận tín dụng (có thể thực hiện chủ động đối với việc thế chấp tại các tổ chức tín dụng) và mức chi tiêu hộ gia đình, từ đó có thể tăng tiêu dùng và đầu tư hoặc tái đầu tư vào sản xuất cũng như giảm tỷ lệ nghèo. Việc người phụ nữ có tên trên Giấy chứng nhận được đảm bảo trong quá trình thực hiện quyền đối với đất đai và tài sản (thực tế làm tăng quyền của phụ nữ trong việc ra quyết định).


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan