Thứ 7, 25/06/2022 - 18:28
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kinh nghiệm từ việc triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Tại Việt Nam, việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thực hiện từ năm 2003 theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ; qua 17 năm triển khai thực hiện, quy định về đối tượng, cơ chế, cách thức thu phí ngày càng được hoàn thiện. Trước ngày 01/7/2020, việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thực hiện theo Nghị định số 154/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ. Kết quả thực hiện đã nhận được một số kết quả nhất định. 

Việc quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường; ràng buộc đối tượng xả thải nước thải gây ô nhiễm trong việc đóng góp kinh phí phục vụ cho việc cải tạo ô nhiễm môi trường đối với nước thải. Bên cạnh đó, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư công nghệ xử lý chất lượng nước thải, đảm bảo tiêu chuẩn xả thải trước khi xả thải ra môi trường. Từ đó góp phần sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hiệu quả, giảm thiểu ô nhiễm môi trường;

Căn cứ quy định tại Nghị định 154/2016/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân các tỉnh đã xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành Nghị quyết quy định mức tiền để lại cho tổ chức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt; một số địa phương quy định mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt cao hơn so với mức 10% giá bán nước sạch quy định tại Nghị định. Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai thực hiện thu phí, tuyên truyền hướng dẫn tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện khai nộp phí theo quy định;

Các địa phương đều đánh giá, phân loại các cơ sở sản xuất, chế biến và đối tượng khác có nước thải thuộc đối tượng nộp phí theo đúng quy định. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến cơ bản chấp hành về công tác quan trắc và khai báo chất ô nhiễm có trong nước thải theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP; một số doanh nghiệp có khối lượng nước thải lớn (từ trên 1.000 m3 nước thải/ngày đêm) đã thực hiện quan trắc tự động có kết nối với cơ quan quản lý môi trường, do vậy, việc theo dõi hàm lượng chất ô nhiễm và khối lượng nước thải là cơ sở xác định số phí phải nộp được giám sát chặt chẽ;

Một số địa phương khác cho rằng, việc tính phí bảo vệ môi trường theo chất ô nhiễm có trong nước thải và khối lượng nước thải ra là phù hợp với xu hướng phát triển công nghệ thông tin, kết nối mạng và kiểm soát trực tuyến;

Nhìn chung, việc triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được các địa phương ghi nhận là công cụ hỗ trợ hiệu quả trong việc quản lý, giám sát, theo dõi các đối tượng xả nước thải trên địa bàn, nhất là các nguồn thải lưu lượng lớn, có tác động nhiều đến môi trường; nguồn thu phí (số tiền phí thu được năm 2016 là 1.287 tỷ đồng, năm 2017 là 2.102 tỷ đồng) góp phần tăng cường kinh phí cho công tác giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở địa phương.

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế như sau:

Về đối tượng chịu phí: Quá trình thực hiện, có ý kiến đề nghị làm rõ hơn về đối tượng chịu phí. Trường hợp tổ chức, cá nhân trong khu công nghiệp, khu đô thị đã trả chi phí cho hoạt động thoát nước, xử lý nước thải thì có phải nộp phí bảo vệ môi trường nữa không; có ý kiến đề nghị quy định rõ tránh thu trùng phí. Ngoài ra, một số địa phương có ý kiến đề nghị bổ sung tiêu chí về quy mô hoạt động của cơ sở chăn nuôi, bổ sung quy định thu phí nước thải công nghiệp của các khu kinh tế, khu chế xuất, cụm công nghiệp, dịch vụ xử lý chất thải...., tương tự khu công nghiệp.

Về cơ quan thu: Nghị định số 154/2016/NĐ-CP quy định cơ quan thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải gồm: 3. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng. Nội dung này được kế thừa từ Nghị định số 67/2003/NĐ-CP. Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thực hiện, theo báo cáo của các địa phương thì có rất ít địa phương thu được phí đối với đối tượng này, số tiền phí thu được rất nhỏ không đủ bù đắp chi phí tổ chức thu. Ngoài ra, chính quyền cấp xã không có bộ máy chuyên môn về môi trường và không có cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này.

Như vậy, phạm vi đối tượng chịu phí nhỏ (chỉ còn trường hợp tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở các phường tự khoan nước để sử dụng thuộc diện nộp phí, trường hợp này ít phát sinh), việc thu phí không khả thi, hiệu quả kém.

Về chính sách miễn phí: Một số ý kiến đề nghị xem xét miễn phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức ở nông thôn vì cùng ở địa bàn nông thôn, các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ (làng nghề) vẫn thuộc diện chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Trong khi đó, các phòng khám, nhà hàng lớn có lượng nước thải lớn và gây ô nhiễm môi trường hơn thì được miễn phí.

Về mức phí: Một số ý kiến cho rằng mức thu phí BVMT hiện thấp không đủ bù đắp chi phí xây dựng, duy tu, bảo trì hệ thống đường cống thu gom thoát nước (TP. Hà Nội thu 200 tỷ đồng/năm, chi 1.000 tỷ đồng/năm); ý kiến khác cho rằng phí đối với nước thải công nghiệp thấp hơn nước thải sinh hoạt.

Các bất cập này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với cơ quan chủ trì là Bộ Tài chính đánh giá để trình Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020 (thay thế cho Nghị định số 154/2016/NĐ-CP).

Do vậy, việc triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải cũng cần phải chủ động xác định những bất cập trong quá trình triển khai để đưa ra chính sách phù hợp trong thực tiễn, đặc biệt là các quy định về đối tượng thu, phương thức thu và các chính sách miễn, giảm phí.


Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan