Thứ 4, 23/10/2019 - 10:17
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Hội thảo Tham vấn dự thảo Quy chế ứng phó sự cố môi trường và phổ biến Nghị định số 40/2019/NĐ-CP tại TP.Hồ Chí Minh

Trong các ngày 13-14/6/2019, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Vụ Pháp chế đã chủ trì, phối hợp với Ban quản lý dự án Mục tiêu xã hội trong tăng trưởng xanh bền vững ở Việt Nam của Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức(GIZ Việt Nam), để tổ chức Hội thảo tham vấn về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ứng phó sự cố môi trường và phổ biến Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường.

 

Toàn cảnh Hội thảo

Tham dự Hội thảo có các đại biểu đến từ Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ cứu nạn, các Ban quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, các Tổng công ty, tập đoàn lớn là các đối tượng trực tiếp chịu tác động của Quy chế.

Dự thảo Quy chế ứng phó sự cố môi trường được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật bảo vệ môi trường 2014, Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 21/3/2017 của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, đồng thời được xây dựng trên cơ sở thực tiễn ứng phó sự cố môi trường trong thời gian qua, bảo đảm khắc phục được các bất cập, hạn chế hiện nay, đáp ứng được yêu cầu ứng phó sự cố môi trường một cách hiệu quả, chuyên nghiệp. Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ứng phó sự cố môi trường đã được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu và khảo sát thực tiễn từ năm 2016 và trên cơ sở họp tổ biên tập, góp ý của các Bộ, ngành, địa phương.

Quy chế này quy định ứng phó sự cố môi trường do chất thải gây ra trong quá trình thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý và xả chất thải (sau đây gọi tắt là sự cố môi trường), bao gồm: chuẩn bị ứng phó sự cố môi trường, tổ chức ứng phó sự cố môi trường, cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố môi trường; cơ chế hỗ trợ ứng phó, cải tạo, phục hồi môi trường và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Quy chế có 6 chương, 28 điều, quy định về phân loại sự cố môi trường; chuẩn bị ứng phó sự cố môi trường; cải tạo phục hồi môi trường; cơ chế hỗ trợ, cải tạo, phục hồi môi trường; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, bộ, ngành địa phương trong ứng phó, cải tạo phục hồi môi trường, cụ thể như sau:

Chương 1. Những quy định chung, ( từ Điều 1 đến Điều 4) trong đó quy định phạm vi, nguyên tắc, phân loại sự cố môi trường

- Sự cố Môi trường được chia thành 4 mức độ: Sự cố môi trường mức độ thấp; Sự cố môi trường mức độ trung bình; Sự cố môi trường mức độ cao; Sự cố môi trường mức độ thảm họa.

- Việc phân loại mức độ sự cố môi trường để làm căn cứ xây dựng kế hoạch, kịch bản ứng phó sự cố môi trường, xác định thẩm quyền chỉ đạo, chỉ huy ứng phó sự cố môi trường và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong ứng phó, cải tạo, phục hồi môi trường.

Chương 2. Chuẩn bị ứng phó sự cố môi trường (từ Điều 5 đến Điều 7)

- Xây dựng kế hoạch, kịch bản ứng phó sự cố môi trường và diễn tập ứng phó sự cố môi trường: Kế hoạch ứng phó sự cố môi trường có thể được tích hợp trong kế hoạch, kịch bản ứng phó các loại sự cố khác của cơ sở.

- Nguồn lực ứng phó sự cố môi trường: thực hiện đúng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Tuy nhiên, khi chưa xác định được nguyên nhân thì kinh phí ứng phó sự cố môi trường được trích từ nguồn kinh phí dự phòng hoặc kinh phí sự nghiệp môi trường. Lực lượng ứng phó sự cố môi trường có thể được tích hợp vào các lực lượng ứng phó sự cố của cơ sở.

Chương 3. Tổ chức ứng phó sự cố môi trường (từ Điều 8 đến Điều 15)

- Tiếp nhận thông tin theo đầu số 114, 112 và các cơ quan có thẩm quyền

- Ứng phó sự cố môi trường tại cơ sở do cơ sở thực hiện, vượt quá thẩm quyền thì thông báo ngay theo đầu số 114, 112.

- Ứng phó sự cố môi trường ngoài cơ sở: Lực lượng phản ứng đầu tiên ứng phó sự cố môi trường là lực lượng cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Phù hợp với quy định của Nghị định 30/2017/NĐ-CP, cơ quan quân sự chủ trì, phối hợp với cơ quan bảo vệ môi trường thành lập sở chỉ huy hiện trường.

Người chỉ đạo ứng phó sự cố là Chủ tịch tỉnh, Trưởng ban Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn có thẩm quyền chỉ định người chỉ huy ứng phó sự cố môi trường. Người chỉ đạo có quyền huy động kinh phí để người chỉ huy sử dụng kinh phí ứng phó sự cố môi trường.

- Thành lập tổ công tác xác định nguyên nhân sự cố môi trường: do cơ quan bảo vệ môi trường làm đầu mối phối hợp với lực lượng cảnh sát, các chuyên gia để thu thập dữ liệu, phát hiện nguyên nhân gây sự cố môi trường. Đây là nhiệm vụ quan trọng giúp việc ứng phó sự cố môi trường, cải tạo môi trường sau sự cố hiệu quả hơn, đồng thời có các bằng chứng để thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

- Truyền thông trong ưng phó sự cố môi trường được quy định chặt chẽ để bảo đảm thống nhất thông tin, tránh nhiễu loạn thông tin, gây dư luận không đúng.

- Quy định về điều kiện tuyên bố kết thúc ứng phó sự cố môi trường để chuyển sang giai đoạn cải tạo, phục hồi môi trường. Tạo điều kiện để các hoạt động xã hội diễn ra an toàn, bình thường trong khu vực.

Chương 4. Cải tạo, phục hồi môi trường (từ Điều 16 đến Điều 19)

- Cải tạo, phục hồi môi trường sau sự cố để bảo đảm đáp ứng quy chuẩn môi trường xung quanh, phục hồi mặt bằng cư trú, sản xuất kinh doanh, tự nhiên, khôi phục lại hệ sinh được bảo tồn. Việc cải tạo, phục hồi môi trường được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu.

- Quy định về kết thúc quá trình cải tạo, phục hồi môi trường. Việc cải tạo, phục hồi môi trường chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư.

Chương 5. Cơ chế hỗ trợ ứng phó, cải tạo, phục hồi môi trường (từ Điều 20 đến Điều 25)

- Quy định về cơ chế tài chính ứng phó sự cố môi trường, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành liên quan xây dựng định mức, trình tự thủ tục chi trả cho việc thực hiện các hoạt động ứng phó sự cố môi trường. Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp căn cứ theo phân cấp ứng phó sự cố môi trường có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để yêu cầu cơ sở gây ra sự cố môi trường có trách nhiệm chi trả toàn bộ hoặc một phần các chi phí.

- Quy định về Mạng lưới phòng thí nghiệm hỗ trợ ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; Vai trò của các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia độc lập và các hiệp hội nghề nghiệp trong ứng phó sự cố môi trường; Cơ sở dữ liệu về các tình trạng khẩn cấp hoặc sự cố môi trường; Tham gia của cộng đồng trong ứng phó sự cố môi trường, cải tạo, phục hồi môi trường; Khuyến khích các hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố môi trường

Chương 6. Trách nhiệm tổ chức thực hiện (từ Điều 26 đến Điều 28)

Quy định về: Trách nhiệm của Ủy ban quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn; Trách nhiệm của các bộ; Trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Tại Hội thảo, các đại biểu được nghe các chuyên gia tư vấn độc lập trao đổi về Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng pháp luật liên quan đến ứng phó sự cố môi trường của Việt Nam - một số vấn đề đặt ra, trong đó có vấn đề về đánh giá tác động xã hội và giới; Đánh giá tác động xã hội và giới trong dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ứng phó sự cố môi trường và đề xuất;  đồng thời thảo luận nhóm về đánh giá tác động xã hội và giới của dự thảo Quy chế; Thảo luận về các đề xuất, đánh giá từ kết quả báo cáo đánh giá tác động và các nguyên tắc trong việc xây dựng Quyết định ban hành Quy chế…

Bên cạnh đó, một nội dung quan trọng của Hội thảo là tuyên truyền phổ biển giới thiệu các nội dung của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi tiết Luật Bảo vệ môi trường vừa mới được ban hành ngày 13/5/2019.

Một số điểm mới về Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường 

Ngày 13 /5 /2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường.

Nghị định 40/2019/NĐ-CP đã được xây dựng, hoàn thiện trên tinh thần quán triệt, bám sát ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về BVMT và các văn bản liên quan, đặc biệt là nhấn mạnh quan điểm “không phát triển kinh tế bằng mọi giá; không đánh đổi môi trường lấy kinh tế”, đổi mới phương thức quản lý môi trường “từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa” với nhiều quy định mới, đột phá nhằm từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững.

Nghị định đã cải cách mạnh mẽ TTHC, cắt giảm ĐKKD, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” như: (i) bãi bỏ và cắt giảm trên 25 TTHC và ĐKKD, đặc biệt là xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, công khai minh bạch, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân và DN; (ii) lồng ghép một số TTHC trong các lĩnh vực BVMT, tài nguyên nước, khoáng sản, biển và hải đảo; (iii) giảm thời gian thực hiện TTHC từ 15-25 ngày; (iv) thay đổi phương thức kiểm tra nhà nước về chất lượng PLNK theo Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 03/02/2019 và chỉ đạo của TTgCP tại CV 1036/VPCP-TH ngày 01/02/2019.

Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định sau:

Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường: sửa đổi các quy định liên quan đến Đánh giá môi trường chiến lược; lập, thẩm định đánh giá tác động môi trường; vận hành thử nghiệm; Kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường; kế hoạch bảo vệ môi trường; Phương án (PA) cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản; Sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các điều về quản lý chất lượng môi trường (đất, nước, không khí, quan trắc môi trường,…) để phù hợp với Luật BVMT; Sửa đổi, bổ sung các quy định, điều kiện về BVMT trong phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng

Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 /02 / 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành  một số điều của Luật bảo vệ môi trường: sửa đổi, bổ sung về: xác nhận hệ thống quản lý môi trường; Cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ONMTNT) là cơ sở có HVVP về xả nước thải, thải bụi, khí thải, gây ô nhiễm tiếng ồn, độ rung vượt QCVN hoặc chôn, lấp, đổ, thải CTR, CTNH trái quy định về BVMT, đến mức bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đình chỉ hoạt động; quy định liên quan đến Quỹ bảo vệ môi trường, ưu đãi bảo vệ môi trường;

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu: sửa đổi, bổ sung: Bỏ các quy định hồi tố được sử dụng bản kê khai, cam kết, kế hoạch, đề án BVMT,… để lập hồ sơ xin cấp Giấy phép XL, đồng xử lý CTNH; sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý CTSH và CTCN thông thường; Cụ thể hóa một số quy định của NQ 09/NQ-CP về việc giao Bộ TNMT chủ trì, thống nhất QLNN về chất thải; Tăng cường tái chế, tái sử dụng CTCNTT làm nguyên liệu sản xuất VLXD, san lấp mặt bằng và sử dụng trong các công trình xây dựng nếu phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn kỹ thuật; Cơ sở xử lý CTSH, CTCNTT phải áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo TCVN ISO 14001; sửa đổi quy định về quản lý nước thải; Công trình PNUPSCMT phải được quy định trong ĐTM hoặc được chấp thuận bổ sung nếu trong báo cáo ĐTM chưa có công trình này; sửa đổi bổ sung quy định về quan trắc, cấp phép xả nước thải, khí thải; về quản lý chất thải đặc thù, quản lý  phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu SX

Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31 /12 /2014 của Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường: sửa đổi bổ sung về: điều kiện để cấp Giấy chứng nhận: “Có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thử nghiệm phù hợp với lĩnh vực môi trường được cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp;”; Thay đổi nội dung liên quan đến điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường cho phù hợp với thực tiễn và lĩnh vực quản lý về môi trường; Bãi bỏ một số ĐKKD không cần thiết và không thuộc phạm vi quản lý của ngành tài nguyên và môi trường.

Trước đó, ngày 30-31/5/2019, tại Nghệ An, Vụ Pháp chế cũng tổ chức Hội thảo tham vấn về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế ứng phó sự cố môi trường và phổ biến Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường.

Toàn cảnh Hội thảo tại Nghệ An ngày 30/5/2019

Nguyễn Thi


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan