Thứ 6, 30/09/2022 - 16:14
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đầu tư tài chính và nguồn nhân lực cho công tác BVMT các khu công nghiệp

Mặc dù ngân sách nhà nước (NSNN) còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung các địa phương đều quan tâm đầu tư cho công tác BVMT, cơ bản bố trí đủ, hoặc vượt 1% tổng chi ngân sách địa phương cho công tác BVMT nói chung, trong đó có các KCN. Tổ chức bộ máy quản lý BVMT tại KCN ở các địa phương cơ bản đã được hình thành, tổ chức hoạt động và được phân cấp thực hiện chức năng quản lý theo thẩm quyền.

Về đầu tư tài chính

Trung bình khoảng 75% số phí BVMT đối với nước thải công nghiệp được nộp vào ngân sách địa phương để sử dụng cho công tác BVMT; bổ sung nguồn vốn hoạt động cho Quỹ BVMT của địa phương để sử dụng cho việc phòng ngừa, hạn chế, kiểm soát ô nhiễm môi trường do nước thải; tổ chức thực hiện các giải pháp, phương án công nghệ, kỹ thuật XLNT. Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển từ NSNN, trong giai đoạn 2015-2018, đã có 44 lượt công trình, dự án nhà máy XLNT và các hạng mục liên quan đến nhà máy XLNT KCN được hỗ trợ vốn từ quỹ đầu tư phát triển là 974,404 tỷ đồng.

Ngoài ra, thực hiện Nghị quyết 73/NQ-CP ngày 26/8/2016 của Chính phủ về phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020, trong đó có Chương trình mục tiêu đầu tư hạ tầng Khu kinh tế ven biển, Khu kinh tế cửa khẩu, KCN, Khu công nghệ cao. Trong giai đoạn 2016-2020, ngân sách trung ương (NSTW) hỗ trợ cho 20 dự án xây dựng nhà máy XLNT tập trung trong các KCN và các hạng mục liên quan đến XLNT tại 17 địa phương với tổng số vốn bố trí là 1.300,665 tỷ đồng. Tính đến thời điểm 2019, lũy kế NSTW bố trí cho các dự án XLNT là 708,831 tỷ đồng, đạt gần 55% so với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Bên cạnh đó còn nhiều nguồn vốn khác tài trợ cho công tác BVMT như vốn ODA, nguồn vốn từ Quỹ BVMT Việt Nam[1] và các doanh nghiệp cũng tích cực huy động nguồn vốn tự có, vốn vay từ các ngân hàng thương mại để đầu tư công trình BVMT.

Về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực quản lý BVMT

Tổ chức bộ máy quản lý BVMT tại KCN ở các địa phương cơ bản đã được hình thành, tổ chức hoạt động và được phân cấp thực hiện chức năng quản lý theo thẩm quyền. Ban Quản lý KCN thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KCN; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư thứ cấp trong KCN. Ban Quản lý KCN có thẩm quyền trực tiếp quản lý về đầu tư và quản lý KCN theo hướng dẫn của các Bộ và theo sự ủy quyền của các cơ quan có thẩm quyền trên một số lĩnh vực: thương mại, xây dựng, lao động. Các Ban Quản lý KCN đều bố trí nhân sự làm công tác BVMT. Trên cả nước hiện có 258 công chức, viên chức làm công tác BVMT tại các Ban Quản lý KCN. Nhiều địa phương có Quy chế phối hợp giữa Ban Quản lý KCN và các ngành chức năng có liên quan trong công tác quản lý nhà nước về môi trường. Về cơ bản, các Ban Quản lý KCN đều có nhiều cố gắng trong thực thi nhiệm vụ của mình, trong đó có công tác BVMT trong các KCN.

Các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN đều có bộ phận phụ trách về môi trường hoặc bố trí cán bộ chuyên trách có chuyên môn phù hợp để quản lý, vận hành hệ thống xử lý chất thải, kiểm soát môi trường. Các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong KCN bố trí bộ phận chuyên môn hoặc nhân sự có chuyên môn phù hợp phụ trách về BVMT tùy theo quy mô hoạt động và các vấn đề môi trường phát sinh.

Các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN và các doanh nghiệp đầu tư thứ cấp trong KCN thực hiện theo sự quản lý và hướng dẫn của Ban quản lý KCN và Sở TN&MT địa phương.


[1] Đã thực hiện cho vay 47 dự án xây dựng công trình BVMT các KCN, với số tiền 520,17 tỷ đồng. Trong đó, 35 dự án vay xây dựng hạ tầng KCN với số tiền 418,27 tỷ đồng (chiếm 80,4%) và các nhà máy thứ cấp trong KCN khác.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan