Thứ 6, 30/09/2022 - 17:05
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đánh giá hệ thống các văn bản, chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động lấn biển

Pháp luật hiện hành gần như chưa có các quy định cụ thể đối với hoạt động lấn biển. Pháp luật đất đai chỉ quy định nguyên tắc chung về việc khuyến khích hoạt động khai hoang, lấn biển. Pháp luật về đầu tư chỉ quy định về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư, quyết định đầu tư, trong đó có quy định liên quan đến thẩm quyền đối với một số dự án lấn biển có quy mô lớn. Pháp luật bảo vệ môi trường có quy định một số dự án lấn biển có quy mô lớn phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, tuy nhiên không có yêu cầu quy định cụ thể đối với các dự án có hoạt động lấn biển.

Cụ thể hơn, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chỉ quy định việc khai hoang, lấn biển là một trong các hoạt động bị hạn chế trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ biển (Điểm b, Khoản 1, Điều 25) và chỉ được thực hiện khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (Khoản 2, Điều 41, Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo); tuy nhiên, cơ bản hoạt động lấn biển lại không thuộc phạm vi hành lang bảo vệ bờ biển (vì nằm ngoài đường mực nước triều cao trung bình trong nhiều năm). Cùng với đó, tại Khoản 1, Điều 79, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định “Kể từ thời điểm Luật này được công bố, giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau đây: (a) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; (b) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư; (c) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố”. Thực trạng hiện nay, mới chỉ có 02 địa là Quảng Ngãi và Bình Định đã hoàn thành việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển (HLBVBB), tức là đã xong cả bốn bước theo quy định về thiết lập HLBVBB. Bốn địa phương gồm Quảng Trị, Phú Yên, Bến Tre và Sóc Trăng đã xong bước 1, 2, 3 và đang chuẩn bị cắm mốc giới, tuy nhiên, tại Phú Yên phát sinh vấn đề khi chuẩn bị cắm mốc là người dân phản đối việc cắm mốc do nhà của họ nằm trong phạm vi HLBVBBB, Phú Yên đang xem xét đề xuất điều chỉnh phạm vi ranh giới HLBVBB. Một số tỉnh đang ở Bước 3, trong đó có Hải Phòng là cơ bản đã xong bước này, đang chờ quyết định của UBND tỉnh phê duyệt ranh giới HLBVBB. Hầu hết các tỉnh còn lại đang ở Bước 2, trong đó một số tỉnh đã xây dựng xong dự thảo Danh mục đang lấy ý kiến các bên liên quan tại địa phương, cũng như lấy ý kiến các bộ, ngành, một số tỉnh đang triển khai hoặc bắt đầu triển khai dự án. Riêng thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chưa triển khai thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Do vậy, công tác quản lý hoạt động lấn biển cũng đặt ra những yêu cầu đặc biệt trong công tác quản lý hoạt động này, có mối liên quan đến các quy định về quản lý tài nguyên, đa dạng sinh học, thuỷ sản, …

Bên cạnh đó, các quy định về thẩm định, quyết định cho phép thực hiện các hoạt động liên quan đến lấn biển đối với đê, kè biển, cảng biển, lấn biển để trồng rừng ngập mặn đã được quy định rõ ràng hơn trong Luật đê điều, Bộ luật hàng hải, Luật lâm nghiệp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; tuy nhiên, các yêu cầu về kỹ thuật cũng chưa được chú trọng quy định.

Hiện nay, ngoài các thủ tục về cấp phép đầu tư, các dự án lấn biển trước khi được thực hiện phải thực hiện các quy định về giao khu vực biển được quy định chi tiết tại Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ. Căn cứ để giao khu vực biển gồm có: (i) Nhu cầu sử dụng khu vực biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển của tổ chức, cá nhân; (ii) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển, việc giao khu vực biển phải căn cứ vào quy hoạch ngành, địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. (iii) Quy luật tự nhiên, chức năng sử dụng của khu vực biển và yêu cầu bảo vệ tài nguyên, môi trường biển.

Về thẩm quyền giao khu vực biển được quy định tại Điều 10 của Nghị định, trong đó có nêu: (a) Thủ tướng Chính phủ quyết định giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân để thực hiện các dự án đầu tư khai thác, sử dụng tài nguyên biển thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (b) Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định giao khu vực biển nằm ngoài vùng biển 03 hải lý; khu vực biển liên vùng, trừ các khu vực biển thuộc thẩm quyền giao của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điểm a Khoản này; (c) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển quyết định giao khu vực biển trong phạm vi vùng biển 03 hải lý, trừ các khu vực biển thuộc thẩm quyền giao của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường được quy định tại Điểm a và b Khoản này. Tại Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã đặt ra yêu cầu về việc “Kiểm soát chặt chẽ các dự án quai đê, lấn biển”.

Ngoài ra, trong quá trình lấn biển tại một số loại hình dự án cụ thể như xây dựng cảng biển, khu đô thị, xây kè chắn sóng, đê bao quanh diện tích lấn biển thì công tác nạo vét và xử lý bùn, cát, trầm tích cũng như việc lựa chọn loại vật liệu để san lấp cũng là những vấn đề cần được quản lý. Trên thực tế, việc quản lý hoạt động nhận chìm chất nạo vét và các khu vực nhận chìm bùn nạo vét trên biển cũng như quản lý hoạt động lấn biển vẫn được tiến hành thông qua việc tổng hợp nhiều quy định của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các nội dung quản lý cụ thể và thường được tổng hợp, trình bày trong các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với từng trường hợp, dự án cụ thể. Xét về tổng thể, quy định của báo cáo ĐTM chưa đầy đủ và phù hợp với đặc thù của biển trong đánh giá tác động đối với chất nạo vét để nhận chìm và khu vực nhận chìm chất nạo vét trên biển theo quy định khung 8 bước đánh giá vật, chất nhận chìm để cấp phép và kiểm soát hoạt động nhận chìm theo Công ước Luân Đôn hay Nghị định thư Luân Đôn. Các đánh giá tác động môi trường mới tập trung đánh giá chủ yếu về mặt môi trường, thiếu các đánh giá trên phương diện tiếp cận tổng thể, đặc biệt là các đánh giá trong việc bảo đảm an toàn giao thông và ảnh hưởng đến các hoạt động khai thác, sử dụng biển khác cũng như các nội dung kiểm soát, giám sát việc thực hiện việc nhận chìm trên biển nói riêng và hoạt động lấn biển nói chung còn chưa chi tiết, đầy đủ. Hơn nữa, các báo cáo ĐTM chủ yếu mang tính định tính, thiếu các yếu tố định lượng để so sánh, đối chiếu làm cơ sở cho việc ra quyết định cho nhận chìm chất nạo v trên biển và ra quyết định cho phép các hoạt động lấn biển. Thực tế, các vật chất nạo vét cũng được sử dụng cho công đoạn san lấp mặt bằng của khu vực được lấn biển. Hoạt động lấn biển như được đề cập tại vấn đề này cũng sử dụng hiệu quả các vật chất nạo vét, vật chất nhận chìm ở biển để phục vụ san lấp mặt bằng hiệu quả, giảm thiểu chi phí và giảm tác động đến môi trường, hệ sinh thái biển nếu lựa chọn phương án nhận chìm ở biển. Ví dụ như phương án sử dụng vật chất nạo vét của Công ty TNHH điện lực Vĩnh Tân 1 để san lấp mặt bằng cho dự án Cảng tổng hợp Vĩnh Tân. Phương án này sẽ đảm bảo tiến độ cho phát điện, đáp ứng yêu cầu về an ninh năng lượng cho các tỉnh phía Nam, cũng như tránh các tranh chấp pháp lý có thể phát sinh. Ngoài ra, phương án trên còn đảm bảo về môi trường do khu vực dự kiến lấn biển (ở Cảng tổng hợp Vĩnh Tân) đã được thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; xây kè kiên cố có thể tiếp nhận ngay một triệu mét khối vật, chất nạo vét. Giải pháp lấn biển cũng được cho đáp ứng yêu cầu về thời gian để giới khoa học tiếp tục đánh giá toàn diện, đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường. Trước đó, Bộ Tài nguyên đã cấp phép cho Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm gần một triệu mét khối bùn, cát, vỏ sò, sạn sỏi ra vùng biển thuộc xã Vĩnh Tân (Tuy Phong, Bình Thuận), tuy nhiên, Quyết định này vấp phải sự phản đối của một số nhà khoa học và tổ chức liên quan, vì cho rằng có thể xảy ra những tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái biển. Về quy định liên quan đến nạo vét luồng hàng hải được quản lý thông qua: Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Thông tư 28/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định kỹ thuật đánh giá chất nạo vét và xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở vùng biển Việt Nam; Quyết định số 73/2013/QĐ-TTg ngày 27/11/2013 về việc thí điểm thực hiện cơ chế nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải,…  

Tuy nhiên, vấn đề nạo vét trong hoạt động lấn biển và phương án xử lý vật chất nạo vét này có đặc thù khác với các dự án nạo vét, duy tu luồng hàng hải cả về khối lượng, thời gian và phương án lựa chọn để xử lý vật chất nạo vét cũng như các yêu cầu kỹ thuật nếu vật chất nạo vét được sử dụng làm vật liệu san lấp tại khu vực lấn biển. Hiện nay, các quy định riêng, đặc biệt là các quy định mang tính kỹ thuật cho vấn đề này chưa có.


Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan