Thứ 6, 05/03/2021 - 02:11
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Công tác cải cách hành chính có nhiều chuyển biến cả về quy mô, chất lượng và đạt được một số kết quả tích cực

Để triển khai Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), Bộ trưởng Bộ TN&MT đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC của Bộ giai đoạn 2012 - 2020, Kế hoạch CCHC của Bộ giai đoạn 2016-2020. Hàng năm, Bộ TN&MT xây dựng và tổ chức triển khai Kế hoạch và đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Bộ xây dựng và triển kế hoạch của đơn vị. Theo đó, công tác CCHC có nhiều chuyển biến cả về quy mô, chất lượng và đạt được một số kết quả tích cực, cụ thể và đáng khích lệ. Đơn giản hóa TTHC theo hướng giảm các bước, quy trình xử lý công việc, công khai, minh bạch tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

 

Công tác theo dõi, đánh giá (chỉ số PAR INDEX, SIPAS)

Chỉ số CCHC (PAR INDEX) và Chỉ số hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) được coi là hệ thống chỉ báo có giá trị tham khảo tích cực, có ý nghĩa quan trọng phục vụ công tác chỉ đạo điều hành quản lý nhà nước của các bộ, ngành liên quan. Bộ TN&MT cũng coi đây là những thước đo hiệu quả của công tác quản lý, điều hành của Bộ. Đối với Bộ TN&MT, kết quả từ dữ liệu PAR INDEX, SIPAS những năm gần đây cho thấy những nỗ lực của toàn ngành trong việc thực hiện, triển khai nhiệm vụ CCHC (Chỉ số CCHC của Bộ TN&MT tăng đều qua các năm: năm 2016 đạt 77,47 điểm, xếp thứ 16/19; năm 2017 đạt 80,02 điểm, xếp thứ 10/19; năm 2018 đạt 82,52 điểm, xếp thứ 9/18; năm 2019 đạt 84,79 điểm, xếp thứ 7/17). Đạt được những kết quả như vậy là nhờ Bộ đã triển khai đồng bộ các giải pháp và sự tham gia, vào cuộc của toàn ngành TN&MT, trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các địa phương trong việc tích cực triển khai thực hiện đồng bộ 4 nhóm giải pháp (i) đổi mới mạnh mẽ công tác chỉ đạo điều hành, huy động sự vào cuộc của toàn ngành hướng về người dân, cơ sở; (ii) tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật để tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp; (iii) đẩy mạnh cải cách TTHC; (iv) thiết lập các cơ chế để người dân tham gia giám sát việc thực hiện chính sách và cung cấp các dịch vụ công của ngành.

Kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính (TTHC)

Tổng số TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ TN&MT đầu nhiệm kỳ là 266 TTHC (trường hợp địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai (ĐKĐĐ) hoặc 288 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng ĐKĐĐ). Số lượng TTHC cắt giảm, đơn giản hóa là 214/266 (chiếm 80,1%), trong đó: Số lượng TTHC được bãi bỏ, thay thế hoặc tích hợp là 81/266 TTHC. Số lượng TTHC được đơn giản hóa là 133 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng ĐKĐĐ) hoặc 155 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng ĐKĐĐ).

Số lượng TTHC quy định mới là 49 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng ĐKĐĐ), 48 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng ĐKĐĐ).

Tổng số TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ TN&MT còn hiệu lực thi hành là 234 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng ĐKĐĐ) hoặc 255 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng ĐKĐĐ).

Kết quả thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh (ĐKKD)

Tổng số ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ TN&MT đầu nhiệm kỳ là 163 điều kiện. Số lượng ĐKKD được đơn giản hóa, bãi bỏ là 102/163 điều kiện (chiếm 62,6%); số lượng ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ còn hiệu lực thi hành là 98 ĐKKD.

Kết quả cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN)

Tổng số sản phẩm, hàng hóa phải KTCN thuộc phạm vi quản lý của Bộ TN&MT đầu nhiệm kỳ là 74 sản phẩm, hàng hóa. Số lượng danh mục sản phẩm, hàng hóa phải KTCN được loại bỏ, cắt giảm là 38/74 sản phẩm, hàng hóa (chiếm 51,3%). Tổng số sản phẩm, hàng hóa KTCN thuộc phạm vi quản lý còn hiệu lực thi hành là 36 sản phẩm, hàng hóa.

Như vậy, trong giai đoạn 2016-2020, Bộ TN&MT đã cắt giảm, đơn giản hóa hơn 80% TTHC; bãi bỏ, đơn giản hóa trên 62% ĐKKD; cắt giảm trên 51% sản phẩm, hàng hóa KTCN. Kết quả cải cách TTHC, ĐKKD và KTCN đã giúp tiết kiệm được khoảng 36.625.409 giờ công lao động/năm và khoảng 1.050,418 tỷ  đồng/năm…


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan