Thứ 7, 25/06/2022 - 21:22
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cải cách hành chính thực hiện các Hiệp định FTA về tài nguyên và môi trường

Công tác cải cách hành chính đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường đặc biệt quan tâm và triển khai thực hiện trong thực tế bảo đảm việc nội luật hóa cũng như tổ chức thực hiện phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc cải cách thủ tục hành chính được triển khai thực hiện đồng bộ trong đó tập trung việc cải cách thể chế, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và hiện đại hóa nền hành chính; việc cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính công được tiến hành đồng bộ, tương thích với các nhiệm vụ được giao, giảm đầu mối quản lý, thực hiện việc phân cấp theo đơn vị dự toán được tiến hành thông suốt, đảm bảo hoạt động trơn tru và thống nhất của bộ máy hành chính.

Về cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp, nâng cao năng lực cán bộ và cải cách tài chính công

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường ngày một hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cần thiết để thực hiện quản lý nhà nước, cơ sở cho các hoạt động của xã hội; bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở nước ta và thúc đẩy đầu tư, kinh doanh thương mại phù hợp với các Hiệp định FTA mà Việt Nam là thành viên. Với các quy định về hình thành giá đất, cho phép giao dịch quyền sử dụng đất trên thị trường bất động sản đã góp phần hoàn thiện thể chế nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy các hoạt động đầu tư nước ngoài. Các quy định trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã chú trọng thiết lập và phát huy chế độ công khai, minh bạch. Cải cách thủ tục hành chính đã được thực hiện mạnh mẽ và đạt kết quả tốt; thực hiện giảm mạnh chi phí thực hiện thủ tục hành chính, cải thiện mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, làm tăng tính dân chủ trong quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước; thu hút sự quan tâm của nhân dân đến các công việc của Nhà nước và hoạt động của nền hành chính.

Bộ máy hành chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục được củng cố và tăng cường theo nguyên tắc giảm đầu mối quản lý, tăng cường sự chủ động độc lập và ổn định trong công tác quản lý nhà nước ở các lĩnh vực chuyên ngành; chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Bộ đã được làm rõ hạn chế tối đa sự trùng chéo với các Bộ, ngành khác; chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc Bộ được quy định ổn định bảo đảm sự quản lý thống nhất, đồng bộ giữa các lĩnh vực trong chức năng quản lý đa ngành của Bộ nhưng luôn bảo đảm sự phân định rạch ròi về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trực thuộc Bộ. Như vậy, tổ chức bộ máy của Bộ đã được xắp xếp lại theo hướng hợp lý, gọn đầu mối bảo đảm tính thông suốt, công khai, minh bạch, phục vụ nhân dân, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Việc phân công, phân cấp giữa Bộ và địa phương trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường được thực hiện ngay từ khi thành lập Bộ, trong đó phân cấp mạnh mẽ quản lý nhà nước về đất đai, về môi trường và về địa chất khoáng sản. Qua đó, tăng cường tính chủ động của địa phương trong quản lý nhà nước bảo đảm phù hợp với đặc thù của từng địa phương, đồng thời tăng cường nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cấp độ vĩ mô đối của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Công tác xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức được thực hiện thường xuyên, đồng bộ; chất lượng đội ngũ cán bộ công chức được nâng lên từng bước rõ rệt.

Cải cách tài chính công đã được thực hiện đồng bộ và toàn diện trong đó đẩy mạnh việc phân cấp quản lý về tài chính; thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp, triển khai cơ chế khoáng chi cho đơn vị quản lý nhà nước; có cơ chế hiệu quả trong việc giám sát chi tiêu nội bộ.

Về cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa, cắt giảm điều kiện kinh doanh, cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành giai đoạn 2016-2020

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính (TTHC), đơn giản hóa, cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD), cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) giai đoạn 2016-2020 để tạo điều kiện cho các hoạt đọng kinh doanh được thông suốt và giảm chi phí thực thi cho xã hội, doanh nghiệp cũng như tạo thực hiện các cam kết về tạo điều kiện đầu tư, kinh doanh theo các cam kết của các Hiệp định FTA, cụ thể như sau:

Kết quả thực hiện cải cách TTHC:

Tổng số TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ đầu nhiệm kỳ là 266 TTHC (trường hợp địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai) hoặc 288 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng đăng ký đất đai).

Số lượng TTHC cắt giảm, đơn giản hóa là 214/266 (chiếm 80,1%): Số lượng TTHC được bãi bỏ, thay thế hoặc tích hợp là 81/266 TTHC; Số lượng TTHC được đơn giản hóa là 133 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai) hoặc 155 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng đăng ký đất đai); 

Số lượng TTHC quy định mới là 49 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai), 48 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai).

Tổng số TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ còn hiệu lực thi hành là 234 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai) hoặc 255 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng đăng ký đất đai).

Số lượng văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để bãi bỏ, đơn giản hóa TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ là 19 văn bản, bao gồm: 02 luật, 09 nghị định và 08 thông tư, thông tư liên tịch.

Tổng số chi phí tiết kiệm được từ việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC: ước tính trung bình hằng năm cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp khoảng 33.819.420 giờ công lao động và khoảng 1.010.284.720.000 đồng/năm.

Kết quả thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa ĐKKD

Tổng số ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ đầu nhiệm kỳ là 163.

Số lượng ĐKKD được đơn giản hóa, bãi bỏ là 102/163 điều kiện (chiếm 62,6%); số lượng ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ còn hiệu lực thi hành là 98 ĐKKD.

Số lượng văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để cắt giảm điều kiện kinh doanh là 05 văn bản, bao gồm: 01 luật, 04 nghị định.

Tổng số chi phí tiết kiệm được từ việc cắt giảm ĐKKD ước tính trung bình hằng năm cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp khoảng 2.755.000 giờ công lao động và khoảng 37.095.030.000 đồng/năm.

Kết quả cải cách hoạt động KTCN

Tổng số sản phẩm, hàng hóa phải KTCN thuộc phạm vi quản lý của Bộ đầu nhiệm kỳ là 74 sản phẩm, hàng hóa.

Số lượng danh mục sản phẩm, hàng hóa phải KTCN được loại bỏ, cắt giảm là 38/74 sản phẩm, hàng hóa (chiếm 51,3%).

Số lượng sản phẩm, hàng hóa phải KTCN bổ sung mới: không có.

Tổng số sản phẩm, hàng hóa KTCN thuộc phạm vi quản lý còn hiệu lực thi hành là 36 sản phẩm, hàng hóa - chi tiết tại Phụ lục số 07 kèm theo.

Số lượng văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để cắt giảm danh mục sản phẩm, hàng hóa KTCN là 01 văn bản (01 Thông tư).

Tổng số chi phí tiết kiệm được trong việc cải cách KTCN ước tính trung bình hằng năm cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp khoảng 50.989 giờ công lao động và khoảng 3.038.689.320 đồng/năm.

Như vậy, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cắt giảm, đơn giản hóa hơn 80% TTHC; bãi bỏ, đơn giản hóa trên 62% ĐKKD; cắt giảm trên 51% sản phẩm, hàng hóa KTCN. Kết quả cải cách TTHC, ĐKKD và KTCN đã giúp tiết kiệm được khoảng 36,625,409 giờ công lao động/năm và khoảng 1,050,418,439,320 đồng/năm (hơn một nghìn tỷ/1 năm).


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan