Thứ 7, 24/10/2020 - 16:42
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Quảng Ninh gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 04 ý kiến của cử tri tỉnh Quảng Ninh do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Một là, đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản” theo hướng quy định rõ về hoạt động khai thác đất đồi, đất đá thải của mỏ than làm vật liệu san lấp mặt bằng có phải là khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Vì theo quy định tại Khoản 1, Điều 64, Luật Khoáng sản 2010 thì đất đồi, đất đá thải của mỏ than không có trong danh mục các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Thực tế hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường có các Văn bản: số 151/BTNMT-ĐCKS ngày 10/01/2019, số 1705/BTNMT-ĐCKS ngày 12/4/2019, số 6219/BTNMT-ĐCKS ngày 22/11/2019, trong đó có nội dung hướng dẫn tỉnh Quảng Ninh về việc khai thác đất đồi, đất đá thải của mỏ than làm vật liệu san lấp mặt bằng là hoạt động khai thác khoáng sản, qua đó về trình tự, thủ tục phải thực hiện theo Luật Khoáng sản. Tuy nhiên những văn bản trên không phải là văn bản quy phạm pháp luật nên chưa có căn cứ pháp lý đầy đủ để triển khai thực hiện nên ảnh hưởng đến việc khai thác vật liệu san lấp mặt bằng cho các dự án trên địa bàn

Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản quy định “Khoáng sản đi kèm là loại khoáng sản khác, nằm trong khu vực khai thác, thu hồi được khi khai thác khoáng sản chính đã xác định trong Giấy phép khai thác khoáng sản, kể cả khoáng sản khác ở bãi thải của mỏ đang hoạt động mà tại thời điểm đó xác định việc khai thác, sử dụng loại khoáng sản này có hiệu quả kinh tế”. Theo các tài liệu thăm dò và khai thác, đất đá thải tại các mỏ than bao gồm các loại đá trầm tích như: đá cát kết, sét kết, đá phiến sét,…; các loại đá này nếu có hàm lượng thành phần khoáng vật có ích không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu, vật liệu có giá trị cao hơn vật liệu xây dựng thông thường theo tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam, không chứa các khoáng chất công nghiệp và kim loại có ích là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Khoáng sản (có thể dùng cho mục đích san lấp, đắp nền công trình,…). Như vậy, hoạt động khai thác, thu hồi đất đá thải tại các mỏ than là hoạt động khai thác “khoáng sản đi kèm”, việc quản lý, khai thác phải thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về khoáng sản.

Đất đồi là cách gọi thông thường, ở trạng thái tự nhiên là sản phẩm phong hóa của các loại đá có trước, có thành phần chủ yếu là sét các loại và cát các loại có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có ít các khoáng vật casiterit, volframit, monazit, zircon, ilmenit, vàng đi kèm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường; không đủ tiêu chuẩn sản xuất gốm xây dựng, vật liệu chịu lửa samot, xi măng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam. Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Khoáng sản là “khoáng sản” và theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 64 Luật Khoáng sản đây là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Trường hợp đất đồi sử dụng đắp nền công trình, san lấp là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (dùng cho mục đích san lấp) nên việc quản lý, cấp phép phải tuân thủ các quy định của pháp luật về khoáng sản.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có các Công văn số: 151/BTNMT-ĐCKS ngày 10/01/2019, 1705/BTNMT-ĐCKS ngày 12/4/2019, 6219/BTNMT-ĐCKS ngày 22/11/2019, trong đó có nội dung hướng dẫn tỉnh Quảng Ninh về việc khai thác đất đồi, đất đá thải của mỏ than làm vật liệu san lấp mặt bằng là hoạt động khai thác khoáng sản, qua đó về trình tự, thủ tục phải thực hiện theo Luật Khoáng sản. Các Công văn này không phải là văn bản quy phạm pháp luật, chỉ làm rõ thêm và khẳng định những kiến nghị nêu trên của cử tri tỉnh Quảng Ninh đã được quy định rõ và cụ thể trong Luật Khoáng sản và các Văn bản hướng dẫn thi hành Luật, đồng thời việc quản lý và cấp phép phải theo quy định của Luật Khoáng sản.

Hai là, đề nghị có hướng dẫn cụ thể về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nước ngoài. Theo quy định tại Điều 7 của Luật Nhà ở thì: Cá nhân nước ngoài được mua Nhà ở tại Việt Nam; Theo Luật Đất đai 2013 thì: Tổ chức nước ngoài, cá nhân người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Điểm 2 Điều 32 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Tuy nhiên theo quy định tại Điều 5, Luật Đất đai 2013 thì không quy định đối tượng sử dụng đất là cá nhân người nước ngoài. Do vậy, khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân người nước ngoài, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh gặp vướng mắc do không có cơ sở (hướng dẫn) về việc ghi tại mục thời hạn sử dụng đất và nguồn gốc sử dụng đất ở trang 2 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Luật Đất đai năm 2013 không có quy định việc chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài (Điều 5 của Luật Đất đai không có quy định người sử dụng đất là cá nhân nước ngoài). Do đó, không có cơ sở để hướng dẫn việc thể hiện nội dung về nguồn gốc sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất trên Giấy chứng nhận đối với trường hợp này.

Ba là, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, ủy quyền để tỉnh giải quyết khai thác, sử dụng đất, đã thải mỏ làm vật liệu san nền Dự án Đường bao biển nối thành phố Hạ Long với thành phố Cẩm Phả. Hiện nay, nhu cầu sử dụng đất đá thải của mỏ than để phục vụ san nền các công trình, dự án xây dựng trên địa bàn rất lớn; triển khai các hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Văn bản số 6219/BTNMT-ĐCKS ngày 22/11/2019, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có Văn bản số 950/UBND-CN ngày 19/02/2020 báo cáo đề nghị Bộ xem xét, ủy quyền để tỉnh giải quyết khai thác, sử dụng đất, đã thải mỏ làm vật liệu san nền Dự án Đường bao biển nối thành phố Hạ Long với thành phố Cẩm Phả; đây là công trình trọng điểm của tỉnh đã khởi công, đang gấp rút hoàn thành để chào mừng Đại hội Đảng bộ Tỉnh vào Quý I năm 2021

Về nguyên tắc, Bộ Tài nguyên và Môi trường ủng hộ chủ trương việc khai thác đất đá thải tại các mỏ than nhằm thu hồi triệt để, tối đa khoáng sản. Tuy nhiên, việc ủy quyền cho tỉnh để cấp phép khai thác đất, đá thải mỏ than làm vật liệu san lấp chưa được pháp luật về khoáng sản và pháp luật liên quan quy định. Đồng thời, qua xem xét, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy việc khai thác tại các khu vực này có thể gây mất an toàn rất cao, có khả năng gia tăng ảnh hưởng xấu đến môi trường, do đó, cần phải hết sức thận trọng. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam chủ trì kiểm tra, lấy ý kiến Bộ Công Thương và Tổng cục Môi trường về các vấn đề liên quan đến an toàn của bãi thải, sự ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh nếu khai thác, thu hồi đất đá thải tại các bãi thải của mỏ than, từ đó để tổng hợp, báo cáo Bộ xem xét, giải quyết đề nghị nêu trên của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Bốn là, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường đẩy nhanh việc trình phê duyệt Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển để tạo công cụ điều phối hoạt động của các ngành trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

Căn cứ Điều 44 Luật biển Việt Nam; thực hiện Quyết định số 1319/QĐ-TTg ngày 18/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chương trình xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành các Luật được thông qua tại Kỳ họp thứ ba Quốc hội khoá XIII, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng dự thảo quy hoạch sử dụng biển Việt Nam đến năm 2050, trình Chính phủ xem xét tại Tờ trình số 148/TTr-BTNMT-m ngày 26/5/2017.

Ngày 24/11/2017, Quốc hội thông qua Luật Quy hoạch, trong hệ thống quy hoạch quốc gia có quy hoạch không gian biển quốc gia là quy hoạch cấp quốc gia thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội và quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ là quy hoạch ngành quốc gia thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Phạm vi, nội dung quy hoạch không gian biển quốc gia rộng hơn quy hoạch sử dụng biển; việc lập quy hoạch không gian biển quốc gia phải thực hiện theo quy định của Luật Quy hoạch. Tại Công văn số 162/VPCP-NN ngày 12/01/2018, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đã có ý kiến chỉ đạo, giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, trên cơ sở kết quả dự thảo quy hoạch sử dụng biển Việt Nam đến năm 2050, triển khai xây dựng quy hoạch không gian biển quốc gia theo quy định của Luật Quy hoạch, trình Chính phủ xem xét, quyết định để trình Quốc hội.

Căn cứ các quy định của pháp luật về quy hoạch, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch Quy hoạch không gian biển quốc gia kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và đã được Chính phủ, Thủ tướng phê duyệt. Hiện nay, Bộ đang khẩn trương triển khai xây dựng các quy hoạch trên để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, phê duyệt theo quy định của pháp luật về quy hoạch.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan