Thứ 2, 12/04/2021 - 12:49
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản

Tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản. Bộ đã trình Quốc hội 01 Nghị quyết, trình Chính phủ ban hành 05 Nghị định, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 Quyết định.

 

Trong giai đoạn 2016 - 20202, Bộ TN&MT đã tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản. Bộ đã trình Quốc hội 01 Nghị quyết[1], trình Chính phủ ban hành 05 Nghị định, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 Quyết định[2]; ban hành 21 Thông tư; Công tác xây dựng định mức Kinh tế-kỹ thuật ngành địa chất đã đi vào nề nếp, rà soát hơn 3000 định mức chuyên ngành, ban hành các định mức mới, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý.

Bên cạnh đó, Bộ cũng tiếp tục triển khai Luật Khoáng sản năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn được ban hành nhằm tăng cường hiệu lực công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.

Cấp phép hoạt động khoáng sản chặt chẽ, theo đúng quy định của pháp luật về khoáng sản; đã tăng cường, phối hợp với các tỉnh, thành phố giải quyết những vấn đề cấp bách của thực tiễn quản lý nhà nước về khoáng sản, tạo cơ sở cho doanh nghiệp phát triển sản xuất.

Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản từng bước được đẩy mạnh; hành lang pháp lý đã được hoàn thiện: số lượng hành vi, mức xử phạt của Nghị định xử phạt hành chính lĩnh vực khoáng sản tăng cao, quy trình thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản đã được quy định rõ ràng; tạo chế tài xử phạt mạnh mẽ đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm pháp luật về khoáng sản, chấn chỉnh hoạt động khoáng sản.

Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các cán bộ công chức và người dân đã được quan tâm đúng mức; đã tổ chức đa hình thức, phủ quét tất cả các đối tượng, vùng, miền liên quan đến bảo vệ khoáng sản chưa khai thác và chấp hành pháp luật về khoáng sản.

Công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản: Tiếp tục đẩy mạnh công tác đo vẽ bản đồ địa chất và đánh giá khoáng sản. Trên cơ sở quy hoạch chung đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đề xuất với Chính phủ các đề án lớn quan trọng và đã đánh giá trữ lượng, tài nguyên các khoáng sản titan, urani, than nâu bể Sông Hồng, bauxite – sắt laterit… phục vụ hiệu quả phát triển công nghiệp khai khoáng.

Tập trung xây dựng văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản. Bộ đã trình Quốc hội 01 Nghị quyết[1], trình Chính phủ ban hành 05 Nghị định, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 Quyết định[2]; ban hành 21 Thông tư; Công tác xây dựng định mức Kinh tế-kỹ thuật ngành địa chất đã đi vào nề nếp, rà soát hơn 3000 định mức chuyên ngành, ban hành các định mức mới, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý.

Cấp phép hoạt động khoáng sản: Từ năm 2016 đến 31/12/2019 đã cấp 266 giấy phép hoạt động khoáng sản, trong đó 102 giấy phép thăm dò, 164 giấy phép khai thác. Năm 2020 dự kiến sẽ cấp 55 giấy phép (trong đó 20 giấy phép thăm dò, 35 giấy phép khai thác).

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc quản lý cấp phép hoạt động khoáng sản, đã thực hiện 152 cuộc thanh tra, kiểm tra[3]. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, các Đoàn đã phát hiện và lập Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực khoáng sản. Trên cơ sở đó, ban hành 222 quyết định xử phạt vi với tổng số tiền 3,16 tỷ đồng. Ngoài việc áp dụng hình thức phạt chính (phạt tiền), Bộ còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng giấy phép” và biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi vi phạm gây ra” đối với một số tổ chức có hành vi vi phạm khai thác ngoài ranh giới khu vực được phép khai thác.

Về công tác kinh tế địa chất, khoáng sản, đã cơ bản hoàn thành xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả do nhà nước đã đầu tư cho toàn bộ các giấy phép khai thai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp Bộ. Đã thu về cho ngân sách nhà nước hơn 2.300 tỷ đồng.

Đã cơ bản hoàn thành việc tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với tất cả các Giấy phép khai thác thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tất cả các địa phương có hoạt động khai thác khoáng sản đều đã triển khai việc xác định và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép[4].

Trong giai đoạn 2015-2020, đã tổ chức tính, thẩm định 165 hồ sơ; phê duyệt 320 hồ sơ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với tổng số tiền là 16.134 tỷ đồng; gửi văn bản xác định số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải nộp hàng năm cho Cục thuế địa phương để có thông báo cho tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác với tổng số tiền 14.684 tỷ đồng[5]. Như vậy, trung bình mỗi năm thu ngân sách nhà nước từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản khoảng 4.500 - 5.000 tỷ đồng, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Về công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản, Bộ TNMT đã đấu giá thành công 6 mỏ và các địa phương (32/63 tỉnh, thành phố) đã đấu giá thành công trên 350 mỏ khoáng sản với tổng giá trị ước đạt khoảng 1.500 tỷ đồng, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước khoảng 500 tỷ đồng. Thông qua đấu giá quyền khai thác khoáng sản đã lựa chọn được các tổ chức, cá nhân có năng lực về tài chính cũng như có kinh nghiệm trong hoạt động khoáng sản góp phần phát triển bền vững nền công nghiệp khai khoáng.

Về công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, đã hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 cho hơn 26.240 km2 (bao gồm cả diện tích lập bản đồ địa chất khu vực điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên quặng bauxit Tây Nguyên tỷ lệ 1:50.000), đưa tổng diện tích đã lập bản đồ địa chất và đánh giá khoáng sản tỷ lệ 1: 50.000 phần đất liền lãnh thổ Việt Nam đạt 70%.

Đã đánh giá tổng thể tiềm năng một số loại khoáng sản có tiềm năng lớn như quặng bauxit, sắt laterit ở Tây Nguyên; than nâu đồng bằng Sông Hồng cùng với những nghiên cứu, xác lập các thông số kỹ thuật để áp dụng công nghệ khí hóa than trong tương lai; urani tại một số khu vực và phần dưới sâu bồn trũng Nông Sơn tại tỉnh Quảng Nam; chì, kẽm ở phần sâu tại các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang; quặng đồng trên mặt và ẩn sâu khu vực Kon Rá, tỉnh Kon Tum, v.v. Hiện đang đánh giá các khoáng sản đá hoa trắng ở Bắc Bộ; cát thủy tinh ven biển Trung Bộ; quặng wolfram (sheelit) trên mặt và ẩn sâu ở đới Sông Chảy, tỉnh Hà Giang và tỉnh Sơn La, Lào Cai. Kết quả của công tác điều tra cơ bản về khoáng sản đã phát hiện và xác định tài nguyên của nhiều diện tích có quy mô về tài nguyên, trữ lượng chuyển giao quản lý hoạt động khoáng sản để đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác điều tra địa chất biển[6] đã hoàn thành 150.000 km2 vùng biển độ sâu từ 30 - 100m nước; hoàn thành điều tra trên diện tích 150.000 km2 vùng biển Phú Khánh - Tư Chính - Vũng Mây, độ sâu từ 300 - 2.500m nước đưa tổng diện tích đã hoàn thành công tác điều tra địa chất, khoáng sản biển tỷ lệ 1/500.000 đạt khoảng 40% tổng diện tích vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, công tác điều tra thực hiện khá chậm so với mục tiêu của Chiến lược và Quy hoạch Điều tra điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Giai đoạn 2016 đến nay, đã và đang triển khai có hiệu quả các dự án thuộc Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đến 2020, tầm nhìn đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1388/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2013. Theo đó, thực hiện 03 đề án Chính phủ, trong đó: đã hoàn thành báo cáo tổng kết và xem xét, phê duyệt, nộp lưu trữ theo quy định đối với 02 đề án[7]; đang thực hiện đề án: “Điều tra tổng thể về khoáng sản và hoàn thiện nền bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 vùng Tây Bắc phục vụ quy hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội”.

Thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách bảo vệ môi trường: “Xây dựng bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên tỷ lệ 1:250.000 cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam giai đoạn I (2011-2015) cho một số khu vực trọng điểm”, và triển khai thực hiện 02 dự án mở mới năm 2018: “Xây dựng bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên tỷ lệ 1:250.000 giai đoạn II (2018-2022) cho các tỉnh biên giới và ven biển phía Bắc”; “Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường phóng xạ tại địa bàn một số tỉnh Trung Trung Bộ và đề xuất các giải pháp phòng ngừa phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững”.

Đã trình và được Thủ tướng Chính phủ giao phê duyệt theo quy định và tổ chức thực hiện “Đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản vùng Trung Trung Bộ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” bảo đảm chất lượng, hiệu quả tại Công văn số 1152/TTg-CN ngày 27/8/2020.

 


[1] Nghị quyết sô 101/2019/QH14 ngày 27/11/2019 Nghị quyết kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV

[2] Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 67/2019/NĐ-CP ngày 31/7/2019 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông; Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Quyết định số 04/2018/QĐ-TTg ngày  23/01/2018 của Thủ tướng Chính  phủ Ban hành Quy định phương pháp xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả, phương thức hoàn trả; quy định chế độ thu, quản lý, sử dụng chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, thăm dò khoáng sản do nhà nước đã đầu tư; Quyết định số 48/2017/QĐ-TTg ngày 12/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.

[3] Trong đó: năm 2016: 29 cuộc, năm 2017: 16 cuộc, năm 2018: 50 cuộc, năm 2019: 32 cuộc, 9 tháng đầu năm 2020: 25 cuộc

[4] Theo kết quả theo dõi thống kê cho thấy tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của tất cả các mỏ đã xác định tính đến hết năm 2019 là khoảng 60.000 tỷ đồng, trong đó: thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ TN&MT khoảng 36.000 tỷ đồng và thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND cấp tỉnh khoảng 24.000 tỷ đồng.

[5] Theo số liệu của Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính thống kê số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản do tổ chức, cá nhân đã nộp vào NSNN từ năm 2015 - 2020 là 23.425 tỷ đồng

[6] Thực hiện 03 đề án, gồm: “Bay đo từ - trọng lực tỷ lệ 1:250.000 biển và hải đảo Việt Nam”; “Điều tra, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất công trình, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng lãnh thổ phục vụ xây dựng và phát triển hạ tầng dải ven biển Việt Nam”; và “Điều tra địa chất khoáng sản, tai biến địa chất, môi trường địa chất tỷ lệ 1:100.000 vùng biển 0-30m nước từ Hải Phòng đến Nga Sơn (Thanh Hóa)”

[7] (1) Thăm dò quặng urani khu Pà Lừa - Pà Rồng, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam; (2) Điều tra đánh giá tổng thể tiềm năng than phần đất liền bể Sông Hồng; (3) Điều tra tổng thể về khoáng sản và hoàn thiện nền bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 vùng Tây Bắc phục vụ quy hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội;

 


[1] Nghị quyết sô 101/2019/QH14 ngày 27/11/2019 Nghị quyết kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV

[2] Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 67/2019/NĐ-CP ngày 31/7/2019 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông; Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Quyết định số 04/2018/QĐ-TTg ngày  23/01/2018 của Thủ tướng Chính  phủ Ban hành Quy định phương pháp xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả, phương thức hoàn trả; quy định chế độ thu, quản lý, sử dụng chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, thăm dò khoáng sản do nhà nước đã đầu tư; Quyết định số 48/2017/QĐ-TTg ngày 12/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan